Chương 1 đã trình bày những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận văn. Các nghiên cứu đã được thực hiện đã có thấy bằng chứng về tác động của lợi nhuận kế toán đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại nhiều thị trường chứng khoán 123doc 12 trên thế giới. Tuy nhiên, những nghiên cứu về đề tài này vẫn chưa được nhiều sự quan tâm tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Hơn nữa, các nghiên cứu trong nước khi thực hiện thường sử dụng mô hình Ohlson để đo lường sự tác động.
Vì vậy luận văn đã sử dụng một mô hình khác là mô hình Easton và Harris để xem xét tác động của lợi nhuận kế toán đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam. 123doc 13 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan làm cơ sở nền tảng cho luận văn này. Nhiều thuật ngữ, khái niệm, mô hình ở chương này được sử dụng cho các chương khác.
Chương này cũng trình bày mô hình nghiên cứu của luận văn và các giả thuyết kỳ vọng trong mô hình nghiên cứu. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG VỐN TRONG KẾ TOÁN 2. Định nghĩa Các nghiên cứu kế toán liên quan đến thị trường vốn (Capital markets research in accounting) gọi tắt là CMR là những nghiên cứu khám phá vai trò của kế toán và các thông tin tài chính trong thị trường vốn thông qua việc kiểm định lại mối quan hệ giữa thông tin tài chính và giá cổ phiếu (Deegan và Unerman, 2006). Các nghiên cứu này cố gắng xác định tác động của việc công bố thông tin kế toán đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu và dựa vào những phản ứng của nhà đầu tư thực tế được quan sát và thống kê từ các giao dịch trong thị trường vốn.
Do đó, khi không có sự biến động giá chứng khoán thì có nghĩa là nhà đầu tư không phản ứng với thông tin đó. Nội dung Những điểm chính của các nghiên cứu CMR này bao gồm: Đối tượng quan tâm của những nghiên cứu chỉ là các nhà đầu tư. Nói cách khác, các nghiên cứu này đánh giá tác động tổng hợp của những thông tin báo cáo tài chính đối với nhà đầu tư. Các dạng nghiên cứu: gồm 2 dạng chính là: nghiên cứu sự kiện (event studies) và nghiên cứu liên kết (Association Studies).
Sự phân biệt này dựa theo yếu tố thời gian. Những nghiên cứu liên kết đánh giá tác động của những thước đo kế toán lên lợi nhuận thu được từ chứng khoán trong 1 khoảng thời gian khá dài (thường là 5 năm trở lên) còn nghiên cứu sự kiện thì thời gian quan sát chỉ trong vòng 1 năm, hoặc 1 tháng… 123doc 14 Những giả định của những nghiên cứu CMR, bao gồm: Mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận thu được từ cổ phiếu dựa trên 3 giả thiết về thông tin lợi nhuận kế toán và thông tin tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Nội dung 3 giả định này như sau: - Giả định 1: Lợi nhuận kế toán (thông tin về lợi nhuận kế toán trên các BCTC) cung cấp thông tin cho cổ đông về khả năng sinh lợi hiện tại và kỳ vọng trong tương lai của doanh nghiệp. - Giả định 2: Khả năng sinh lợi hiện tại và kỳ vọng trong tương lai của doanh nghiệp cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về cổ tức hiện tại và kỳ vọng trong tương lai của doanh nghiệp đó.
- Giả định 3: Giá cổ phiếu bằng giá trị hiện tại của cổ tức kỳ vọng trong tương lai của cổ đông. Từ ba giả thiết trên, giả định rằng thông tin mới về lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ làm thay đổi kỳ vọng về cổ tức được chia của nhà đầu tư khi giá trị doanh nghiệp thay đổi. Nhằm kiểm định thực nghiệm 3 giả thiết này, các nhà nghiên cứu kế toán thực chứng liên quan thị trường vốn sẽ kiểm tra sự tương tác của những con số kế toán với giá cổ phiếu. Giả định về thị trường hiệu quả.
Các nghiên cứu kế toán trong thị trường vốn dựa trên giả định thị trường hiệu quả dạng trung bình. Giả thiết về thị trường hiệu quả Giả thiết về thị trường hiệu quả (Efficient Markets Hypothesis–viết tắt là EMH) theo định nghĩa của Fama và các cộng sự (1969) là thị trường điều chỉnh nhanh chóng đối với thông tin mới hay nói cách khác, giá cả sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin hiện có. Theo đó Fama và các cộng sự (1969) đã chia thị trường thành ba dạng thị trường hiệu quả: Dạng yếu (weak form) khi giá chứng khoán tại một thời điểm cụ thể phản ánh đầy đủ thông tin về giá trong quá khứ. Điều này có nghĩa là không thể kiếm 123doc 15 được lợi nhuận kinh tế từ việc sử dụng bất kỳ mô hình dự đoán nào về giá để mua bán cổ phiếu.
Dạng trung bình (semi strong form) khi giá chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin được công bố ngoài thông tin về giá trong quá khứ. Lúc này, kể cả các phân tích về tình hình kinh tế, tài chính… dựa trên các thông tin được công bố cũng không thể giúp mang lại lợi nhuận kinh tế thông qua mua bán cổ phiếu. Dạng mạnh (strong form) khi giá chứng khoán đã phản ánh tất cả thông tin, bao gồm cả các thông tin không được công bố, thí dụ như thông tin nội bộ và cá nhân từ các nhà quản lý, chuyên gia phân tích… Trong ba dạng thị trường hiệu quả thì dạng trung bình có liên quan đến kế toán vì các thông tin kế toán khi được công bố là một phần của tập hợp các thông tin công bố công khai. LỢI NHUẬN KẾ TOÁN (ACCOUNTING EARNINGS) 2.
Khái niệm Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung (ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính): Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Lợi nhuận kế toán được phản ánh trên bảng cân đối kế toán và trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Trên bảng cân đối kế toán, lợi nhuận kế toán là: Lợi nhuận giữ lại là lợi nhuận sau thuế giữ lại để tích luỹ bổ sung vốn.
Lợi nhuận chưa phân phối. Lợi nhuận chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ b. Trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh, lợi nhuận kế toán là 123doc 16 Tổng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thực hiện trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác phát sinh trong kỳ báo cáo Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thuần từ các hoạt động của doanh nghiệp sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp phát sinh trong kỳ báo cáo. Lãi cơ bản trên cổ phiếu. Chỉ tiêu này được áp dụng cho công ty cổ phần, phản ánh mức lãi tính cho một cổ phiếu thường đang lưu hành. Chỉ tiêu này được trình bày cụ thể trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30-Lãi trên cổ phiếu.
Đối với các doanh nghiệp niêm yết thì chỉ tiêu Lãi trên cổ phiếu đồng nhất với thu nhập trên cổ phiếu (Earning per share – EPS). Do đó, lãi cơ bản trên cổ phiếu chính là thu nhập cơ bản trên cổ phiếu (EPS cơ bản), và lãi điều chỉnh trên cổ phiếu cũng chính là thu nhập điều chỉnh trên cổ phiếu (EPS điều chỉnh). Những khoản mục này là những số liệu tính toán nằm ở dòng cuối cùng nên còn được gọi bằng tên tiếng Anh là "the bottom line". Phần cuối của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có một khoản mục là Lãi cơ bản trên cổ phiếu, đây là chỉ tiêu được áp dụng cho công ty cổ phần, phản ánh mức lãi tính cho một cổ phiếu thường đang lưu hành hay còn gọi là thu nhập trên mỗi cổ phần (Earning per share - EPS).
EPS là một trong các giá trị được xem có ảnh hưởng mạnh đến giá thị trường của cổ phiếu đối với các nhà đầu tư (Nguyễn Thị Thục Đoan, 2011). Nhà đầu tư thường quan tâm đến Lãi trên cổ phiếu (EPS) vì con số này thông báo cho các cổ đông và các nhà đầu tư biết lợi nhuận của mỗi cổ phiếu là bao nhiêu và giúp thiết lập một cơ sở chung cho việc đánh giá hệ số giá trên thu nhập P/E và định giá cổ phiếu của một công ty này so với một công ty khác. Lãi trên cổ phiếu Nhằm so sánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết và của doanh nghiệp qua từng năm, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 (VAS 30) và hướng dẫn tại Thông tư số 21/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính đã được ban hành 123doc 17 quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán trong việc xác định và trình bày lãi trên cổ phiếu. Bên cạnh đó, theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán, các công ty niêm yết cũng thực việc theo các văn bản hướng dẫn tính EPS cơ bản và điều chỉnh của UBCK.
Định nghĩa: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30- Lãi trên cổ phiếu: Lãi cơ bản trên cổ phiếu: Được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ (tử số) cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ (mẫu số). Lợi nhuận (lỗ) phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông Lãi cơ bản trên cổ = phiếu Số bình quân gia quyền của cổ phiếu đang lưu hành trong kỳ Trong đó: Lợi nhuận hoặc lỗ để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu: là các khoản lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế phân bổ cho công ty mẹ sau khi được điều chỉnh bởi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ phiếu ưu đãi và những tác động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại vào vốn chủ sở hữu. Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. Doanh nghiệp phải tính lãi cơ bản trên cổ phiếu theo các khoản lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ.