phần mở đầu và phần kết luận, luận án đƣợc tổ chức thành 4 chƣơng. Chƣơng 1 – Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về chất lƣợng lợi nhuận – tổng hợp và phân tích các lý thuyết về các nghiên cứu kiểm nghiệm trong và ngoài nƣớc có liên quan đến chất lƣợng lợi nhuận. Chƣơng này trình bày các lý thuyết quản trị công ty và lý thuyết hành vi, các quan điểm khác nhau về chất lƣợng luan an 8 lợi nhuận, cách thức đánh giá chất lƣợng lợi nhuận, và các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng lợi nhuận. Chƣơng 2 – Thiết kế nghiên cứu – trình bày phƣơng pháp để đạt đƣợc mục tiêu của luận án.
Chƣơng này tập trung vào các giả thuyết nghiên cứu nhằm chỉ ra mối quan hệ giữa chất lƣợng lợi nhuận và các yếu tố tác động (giới hạn tài chính, tính độc lập của HĐQT, chất lƣợng kiểm toán, khả năng thanh khoản, tăng trƣởng doanh thu, và khả năng sinh lời), mô hình nghiên cứu, cách thức đo lƣờng biến độc lập và phụ thuộc, cách thức thu thập dữ liệu, và kỹ thuật phân tích dữ liệu. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc xem nhƣ là cách thức giúp luận án đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Chƣơng 3 – Kết quả nghiên cứu – trình bày kết quả từ mô hình hồi quy về tác động của các yếu tố khác nhau đến chất lƣợng lợi nhuận của công ty. Kết quả đề cập đến thống kê mô tả cho biến độc lập và biến phụ thuộc, phân tích đơn biến (phân tích hệ số tƣơng quan), và phân tích đa biến (kỹ thuật ƣớc lƣợng hồi quy – POLS, FEM, REM, và SGMM).
Chƣơng này cung cấp bằng chứng về các yếu tố tác động đến chất lƣợng lợi nhuận của các công ty niêm yết lần đầu tiên trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Chƣơng 4 – Bàn luận và khuyến nghị – bàn luận kết quả nghiên cứu đối với bối cảnh của các công ty niêm yết lần đầu tiên trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đƣa ra các khuyến nghị đối với các bên có liên quan bao gồm công ty niêm yết, nhà đầu tƣ, và chính phủ. luan an 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƢỢNG LỢI NHUẬN Chất lƣợng lợi nhuận (earnings quality) là vấn đề cốt lõi trong kinh doanh nói chung và kế toán, tài chính nói riêng.
Mục đích quan trọng nhất của báo cáo tài chính là phản ánh đƣợc bản chất của công ty và giúp ngƣời sử dụng BCTC đƣa ra quyết định hiệu quả nhất. Nếu số liệu trên BCTC có chất lƣợng thấp thì ngƣời sử dụng không thể đƣa ra quyết định đúng đắn và vì lẽ đó không thể hoàn thành đƣợc mục đích quan trọng nhất này. Nhƣ vậy, việc đánh giá chất lƣợng lợi nhuận của công ty là vấn đề cực kỳ quan trọng và là một chủ đề tối cần thiết trong các nghiên cứu về kế toán tài chính. Chƣơng một, sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu kiểm nghiệm liên quan đến chất lƣợng lợi nhuận theo trình tự nhƣ sau: (1) tìm hiểu các quan điểm về chất lƣợng lợi nhuận trong các công trình nghiên cứu trƣớc đây; (2) trình bày các lý thuyết nền tảng giải thích cho chất lƣợng lợi nhuận; (3) tổng hợp cách thức đo lƣờng chất lƣợng lợi nhuận; (4) trình bày các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng lợi nhuận; (5) trình bày các công trình nghiên cứu có liên quan đến về chất lƣợng lợi nhuận ở Việt Nam.
Quan điểm về chất lƣợng lợi nhuận Theo các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây, chất lƣợng lợi nhuận có thể đƣợc hiểu là mức độ mà lợi nhuận báo cáo (reported earnings) phản ánh đúng bản chất hoạt động của công ty hay cũng có thể đƣợc hiểu là sự khác biệt giữa lợi nhuận báo cáo và lợi nhuận thực của công ty (Mohammady, 2010). Schipper và Vincent (2003) đánh giá chất lƣợng lợi nhuận dựa trên mức độ phù hợp giữa thu nhập thực của công ty và thu nhập kinh tế (economic income). Penman (2003) cho rằng lợi nhuận kế toán có chất lƣợng tốt khi thông tin mà nó đem lại có thể giúp dự báo lợi nhuận trong tƣơng lai của công ty. Qua các nghiên cứu này, luận án thấy hai khía cạnh đánh giá chất lƣợng lợi nhuận là (1) lợi nhuận có phản ánh trung thực hoạt động của công ty không và (2) lợi nhuận có hữu ích trong việc hỗ trợ ngƣời dùng đƣa ra quyết định kinh tế không.
Francis và cộng sự (2004), Roychowdhury (2006), và Dechow, Ge, và Schrand (2010) phân các tiêu chí đánh giá chất lƣợng lợi nhuận luan an 10 thành ba nhóm là (1) tiêu chí dựa trên số liệu kế toán (accounting-based measures), (2) tiêu chí gắn với thị trƣờng (market-based attributes), và (3) tiêu chí dựa trên giao dịch thực (real activities). Các tiêu chí dựa trên số liệu kế toán bao gồm (1) chất lƣợng khoản dồn tích (accrual quality), tính duy trì (earnings persistence), tính khả đoán (earnings predictability), và tính ổn định (eanings smoothness). Tất cả các tiêu chí này đựa trên giả định là lợi nhuận kế toán cho thấy khả năng phân bổ luồng tiền qua các kỳ báo cáo kế toán một cách hiệu quả thông qua kế toán dồn tích. Chính vì vậy, luồng tiền và các thông tin kế toán sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau khi lợi nhuận báo cáo phản ánh trung thực kết quả hoạt động thực sự của công ty.
Các tiêu chí gắn với thị trƣờng đƣợc xác định dựa trên quan điểm rằng lợi nhuận phản ánh thu nhập kinh tế đƣợc đánh giá thông qua tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu. Nhóm này bao gồm hai tiêu chí (1) giá trị thích hợp (value relevance) và (2) tính kịp thời và thận trọng (timeliness and conservatism). Giá trị thích hợp đƣa ra mức độ mà lợi nhuận báo cáo có thể giải thích cho sự biến động trong giá cổ phiếu và tỷ suất sinh lợi mà nhà đầu tƣ thu đƣợc từ cổ phiếu của công ty. Tính kịp thời và thận trọng đánh giá xem các khoản lỗ có đƣợc ghi nhận kịp thời và đúng kỳ phát sinh hay không.
Các tiêu chí dựa trên giao dịch thực bao gồm (1) điều chỉnh doanh số (sales manipulation), (2) chi tiêu tự quyết (discretionary expenditure), và (3) sản xuất quá mức (overproduction). Thứ nhất, điều chỉnh doanh số đƣợc định nghĩa là nỗ lực của nhà quản trị để gia tăng doanh số tạm thời trong kỳ kế toán bằng cách đƣa ra mức chiết khấu về giá và điều khoản tín dụng ít khe khắt hơn. Thứ hai, công ty sẽ nỗ lực giảm chi tiêu tự quyết đối với chi phí bảo trì hay chi đầu tƣ phát triển nhằm gia tăng lợi nhuận trong kỳ kế toán. Cuối cùng, công ty sản xuất nhiều hàng hóa hơn mức cần thiết để đáp ứng mức cầu kỳ vọng từ đó giảm chi phí cố định trên mỗi đơn vị sản xuất.
Chất lượng lợi nhuận dựa trên khoản dồn tích (quản trị lợi nhuận – earnings management) Quan điểm của tiêu chí này là khoản dồn tích sẽ làm giảm chất lƣợng lợi nhuận của công ty. Chất lƣợng lợi nhuận sẽ đƣợc đánh giá thông qua phân tích giá trị các khoản hạch toán dồn tích và phần bị điều chỉnh (manipulation). Cụ thể, phần hạch toán dồn tích bị điều chỉnh có thể đƣợc xác định thông qua: - Sự tăng hay giảm trong tổng các khoản dồn tích: trong trƣờng hợp các khoản hạch toán dồn tích không bị can thiệp bởi nhà quản trị thì các khoản dồn tích sẽ ổn định qua thời gian. Chính vì vậy, sự biến động tăng giảm của các khoản dồn tích này hàm ý rằng đây là kết quả của việc điều chỉnh số liệu kế toán.
- Khoản dồn tích bất thƣờng (abnormal accruals): đối với phƣơng pháp này, tổng dồn tích sẽ đƣợc đƣa vào mô hình hồi quy chung với các biến số kế toán khác nhƣ doanh thu (revenues), khoản phải thu (account receivables), hay tài sản cố định (fixed assets). Phần dƣ dự báo từ phƣơng trình hồi quy đƣợc sử dụng để đánh giá khoản dồn tích bất thƣờng hay không giải thích đƣợc của công ty. - Mối quan hệ giữa tổng dồn tích và luồng tiền: Dechow và Dichev (2002) phân tích và chỉ ra rằng các khoản dồn tích ngắn hạn (short-term accruals) đƣợc xác định thông qua vốn lƣu động (working capital) có mối quan hệ chặt chẽ với luồng tiền liền trƣớc, trong, và liền sau kỳ báo cáo. Chất lượng lợi nhuận dựa trên tính duy trì, tính ổn định, và tính khả đoán của lợi nhuận Tính duy trì của lợi nhuận (earnings persistence) đƣợc xác định dựa trên sự tự tƣơng quan (autocorrelation) trong chuỗi giá trị lợi nhuận.
Nó thể hiện mức độ lợi nhuận hiện tại sẽ trở thành một phần cố định trong chuỗi giá trị lợi nhuận trong tƣơng lai. Schipper và Vincent (2003) cho rằng tính duy trì của lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với mức độ phản ứng của nhà đầu tƣ đối với thông tin liên quan đến lợi nhuận báo cáo. Nói cách khác, tính duy trì là đặc điểm thể hiện tính hữu luan an 12 dụng (usefulness) của lợi nhuận báo cáo trong việc ra quyết định đầu tƣ. Dechow và cộng sự (2010) nhấn mạnh rằng tính duy trì của lợi nhuận đƣợc xác định bằng hệ số hồi quy giữa lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận tƣơng lai.
Thông tin với lợi nhuận kế toán có khả năng duy trì cao rất hữu ích trong việc dự báo và đánh giá kết quả hoạt động tƣơng lai của công ty. Điều này lý giải cho nguyên nhân đa phần các nghiên cứu về tài chính công ty và thị trƣờng chứng khoán đều đề cập đến tính duy trì của lợi nhuận. Ngoài ra, Dechow và cộng sự (2010) cũng cho rằng tính duy trì của lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với các tiêu chí khác chẳng hạn nhƣ khoản dồn tích bất thƣờng. Công ty với tổng các khoản dồn tích cao thì giá trị dồn tích bất thƣờng nhiều khả năng cũng sẽ cao, lợi nhuận có tính duy trì thấp, tần suất báo cáo lại số liệu cao, hệ thống kiểm soát nội bộ kém, và phản ứng của nhà đầu tƣ đối với thông tin về lợi nhuận cũng yếu hơn.
Tính duy trì của lợi nhuận bị chi phối bởi đặc điểm công ty và hệ thống kế toán. Tính ổn định của lợi nhuận (earnings smoothness) là một thuộc tính quan trọng phụ thuộc vào lựa chọn của hội đồng quản trị. Có nghĩa là, nhà quản trị sẽ chuyển lợi nhuận từ các năm kinh doanh tốt sang các năm kinh doanh khó khăn để lợi nhuận kế toán không có quá nhiều sự biến động giữa các năm (Copeland, 1968).