phần mở đầu bài nghiên cứu, tác giả đã nhấn mạnh mục đích giới thiệu về phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên các dòng tiền chiết khấu, hay còn được goi la “DCF”. Tác giả nhận định phương pháp này là tiêu chuẩn trong tài chính hiện đại, một công cụ tài chính mạnh mẽ, được sử dụng rộng rãi bởi các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư, ngân hàng, tư vấn và quản lý trên toàn thế giới; nên việc tìm hiểu nội dung, những hạn chế và hàmý của. phương pháp rất quan trọng. Phương pháp này dựa trên dữ liệu về tương lai và do đó yêu cầu một số lượng lớn các ước tính, dự đoán tình hình kinh doanh.
trong tương lai của doanh nghiệp, của ngành và nền kinh tế nói chung. thay đổi nhỏ trong các giả định cơ bản sẽ dẫn đến những thay đối lớn, khác biệt về giá trị của công ty. Vì vậy, việc đặt ra các giả định và làm thể nào để chúng ảnh hưởng đến kết quả phân tích rắt quan trọng. Tác giả cũng khái quát về hai biến thể của phương pháp CKDT thường được sử dụng là dòng tiền của doanh nghiệp (FCFF) và dòng tiền vốn chủ sở hữu (FCFE).
Bên cạnh đó, tác giả cũng chú ý đến các bước quan trọng khi áp dụng phương pháp này như: xây dựng các dự đoán, giả định trong tương lai; tính toán chi ph bình quân (WACC) đây được xem là một trong những yếu tí trọng trong mô hình, đòi hỏi phải dựa trên nhiều phân tích về tài chính của. doanh nghiệp, điều kiện của thị trường hiện tại; hay tính toán chỉ phí sử dụng vốn chủ sở hữu, chỉ phí sử dụng nợ và ước tính giá trị cuối cùng của tắt cả các. dòng tiền phát sinh trong tương lai. Tai nghién cứu của mình ông 4 trich dẫn nhận định trong ¡ nghiên cứu của Koller và các công sự rằng.
phân tích dòng tiền chiết khấu là phương pháp chính xác và linh hoạt nÍ định giá các dự án, đơn vi, va các công ty. Tuy nhiên, lỗi trong việc ước tính các chỉ tiêu trong mô hình cũng có thể dẫn đến những sai lầm trong định giá. Ông đã chỉ ra một số lỗi thường gặp trong mô hình DCF như: thời gian dự. báo trong mô hình quá ngắn, ước tính chỉ phi vốn, không tring khớp giữa dự kiến đầu tư và sự tăng trưởng của thu nhập, không phản ánh đúng trách nhiệm.
pháp lý của doanh nghiệp, có sự trùng lắp trong tính toán Ngoài ra, Fernández (2004) cũng đưa ra nghiên cứu về các phương pháp định giá công ty và những lỗi thường gặp trong dinh gia (Company valuation ‘methods. The most common errors in valuations). Tae gid đã tập trung phân tích bốn nhóm phương pháp định giá công ty được sử dụng rộng rãi nhất: phương pháp định giá dựa trên Bảng cân đối kế toán, phương pháp dựa trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phương pháp hỗn hợp và phương pháp 'CKDT. Tác giả cũng nêu ra khái niệm về phương pháp CKDT để xác định giá trị của doanh nghiệp bằng cách ước tính các dòng tiền tạo ra trong tương lai và chiết khấu chúng với một tỷ lệ phù hợp có tính đến yếu tố rủi ro.
phương pháp này dòng tiền phải được chiết khấu dựa trên một tỷ lệ phù hợp, được xác định đối với từng loại của dòng tiền. Bên cạnh các nghiên cứu nhằm đưa ra các nhận định, khái quát về nội dung của các phương pháp định giá doanh nghiệp, đặc biệt là phương pháp CKDT; còn có các tài liệu nghiên cứu dựa trên các kỹ thuật phân tích nhằm so sánh, đánh giá tính hiệu quả của việc đưa ra được giá trị ước tính hợp lý giữa các phương pháp khi áp dụng các phương pháp để định giá doanh nghiệp. Về nội dung nghiên cứu này có thể nói đến nghiên cứu của Penman (1998), ông đã nghiên cứu đánh giá, so sánh giữa các phương pháp định giá doanh nghiệp bằng cổ tức, dòng tiền và thu nhập kế toán trong một giai đoạn. Nghiên cứu của ông được thực hiện trên mẫu nghiên cứu gồm 3.544 doanh nghiệp vào năm 1973 đến 5.642 doanh nghiệp vào năm 1987 giao dịch trên sản chứng khoán New York (NYSE), sản chứng khoán Mỹ (AMEX) và sản giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ (NASDAQ), trong đó ngoại trừ các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính.
Nghiên cứu thực hiện thử nghiệm có điều kiện và vô điều kiện với nội dung so sánh giữa giá trị doanh nghiệp ước tính theo ba mô hình: mô hình định giá bằng cổ tức, dòng tiền và thu nhập kế toán và so sánh với giá trị trên thị trường của doanh. nghiệp, nhằm xác định sai số. Kết quả nghiên cứu cho thấy định giá vốn doanh nghiệp dựa trên thu nhập đồn tích và giá trị số sách kế toán có ưu thể hơn trong thực tiễn so với dựa trên cổ tức và dòng tiền. Lí do là do thu nhập kế toán xét đến yếu tố tương lai theo giả định kể toán dồn tích và việc loại trừ chỉ phí đầu tư khỏi dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra, việc trích khấu hao cũng giúp ích trong việc nâng cao tính phủ hợp về thời gian khi khấu trừ chỉ phí đầu tư khỏi thu nhập hằng năm. Do đó, phương pháp này. chiếm ưu thế trong dự báo lợi tức đầu tư trong các giai đoạn ngắn. Lưu ý là nghiên cứu này sử dụng giá giao dịch thực tế để làm giá trị so sánh chuẩn, có.
nghĩa là tác giả đang mặc định thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và giá giao địch phan ánh đúng giá trị thực của doanh nghiệp. Hay nghiên cứu của Francis và các công sự (2000) về việc so sánh tính. chính xác và khả năng giải thích của các phương pháp ước tính giá trị vốn dựa trên cổ tức, dòng tiền nhàn rỗi và lợi nhuận thing du (Comparing the Accuracy and Explainability of Dividend, Free Cash Flow, and Abnormal Earnings Equity Value Estimates). Nghién ctru nay cung cp bing chimg thuc nghiệm về độ tin cậy của phương pháp ước lượng giá trị nội tại bắt nguồn từ lý thuyết của ba phương pháp xác định giá trị tương đương là: phương pháp chiết khẩu (DIV), CKDT nhàn rỗi (FCF) và phương pháp chiết khấu lợi nhuận thặng dư (AE).
Nhóm tác giả đã đối chiếu độ tin cậy của các giá trị ước. tính về tính chính xác (được định nghĩa là giá trị tuyệt đối của chênh lệch được điều chỉnh giữa giá ước tính và giá hiện tại) và về tính giải thích của các phương pháp (được định nghĩa là khả năng ước tính giá trị để giải thích sự khác biệt với giá hiện tại). Về lý thuyết, các phương pháp mang lại các ước. lượng giống nhau về các giá tr tội tai; nhưng trong thực tế, nếu các yếu tố dự.
báo, tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ chiết khẩu khác nhau sẽ dẫn đến các giá trị ước tính khác nhau. Sử dụng mẫu dự báo gồm 3.000 công ty trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993 nhóm tác giả đã đưa ra kết luận phương pháp ước tính dựa trên lợi nhuận thặng dư chính xác và có khả năng giải thích tốt hơn so với hai phương pháp dựa trên cổ tức và dòng tiền nhàn rỗi. Nghiên cứu của Cupertino và các cộng sự (2006) về sự so sánh giữa các phương pháp định giá dựa trên dòng tiền, lợi nhuận và cổ tức cho các công ty Braxin (Cash Flow, Earnings, and Dividends: a Comparison between Different Valuation Methods for Brazilian Companies) lại cho ra kết luận khác với nghiên citu cua Penman (1998), Francis và cộng sự (2000). Nghiên cứu so sánh ba phương pháp định giá dựa trên chiết khấu cổ tức, CKDT và lợi nhuận với dữ liệu được sử dụng là số liệu tài chính và kế toán từ các công ty Braxin, trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2004.
Để xác định phương pháp định giá nào tốt nhất (trong một khoảng thời gian dự báo hữu hạn) bốn giả thiết đã được nhóm tác giả thiết lập và thử nghiệm. Trong đó, giả thuyết quan trọng được chấp nhận là phương pháp CKDT mang lại độ chính xác và khả năng giải thích tốt hơn phương pháp dựa trên cổ tức và lợi nhuận. Các nghiên cứu tại Việt Nam Nguyễn Văn Tuần (2007) đã nghiên cứu về mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thâm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam và đưa ra một số để xuất cải tiến. Đây là một trong số ít các nghiên cứu về mô hình định giá liên quan đến dòng tiền tại Việt Nam.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã nêu những. nội dung co ban vé thim định giá doanh nghiệp và mô hình DCF; tée gid đã đối chiếu, phân tích và đánh giá thực trạng vận dụng mô hình DCE trong công. tác thẩm định giá doanh nghiệp phục vụ cho cổ phần hoá ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra một số vấn đề tồn tại cần được khắc phục nhằm nâng cao chất lượng của công tác này, Tác giả cũng tập trung làm rõ các gợi ý chính sách nhằm cải tiến biến thể DDM trong thắm định giá doanh nghiệp ở nước ta Tại một nghiên cứu khác của Nguyễn Dương An (2008) đã nghiên cứu về thực trạng và giải pháp của phương pháp định giá doanh nghiệp khi tiến hành cỗ phần hóa và niêm yết lần đầu ở Việt Nam. Tác giả nhận định việc định giá doanh nghiệp khi cỗ phần hóa và niêm yết tại thời điểm nghiên cứu còn nhiều hạn chế.
Trong nghiên cứu, tác giả đã tập trung phân tích thực trạng. và giải pháp của ba phương pháp định giá: CKDT, phương pháp P/E, phương, pháp tài sản. Đặc biệt đối với phương pháp CKDT, tác giả kết luận về thực trạng “cơ sở đữ liệu về doanh nghiệp còn thiểu, các doanh nghiệp chưa quen. với việc lập kế hoạch và khó khăn xác định lãi suất chiết khẩu do thị trường.
tài chính Việt Nam có nhiều biển động” và đề ra kiến nghị nên sử dụng mô. hình dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân theo trọng số để xác định dòng thu. nhập của doanh nghiệp trong áp dụng phương pháp CKDT. Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về nội dung đề xuất giải pháp c: lên các phương pháp định giá doanh nghiệp, Trần Văn Dũng (2008) đã thực hiện luận án về hoàn thiện công tác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam, với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp nhà nước được định giá trong quá trình cỗ phần hóa.
Nghiên cứu đã nêu những nội dung căn bản, tu nhược điểm, đối tượng áp dung của từng phương pháp định giá doanh nghiệp cả về mặt lý luận và thực tiễn.