Chương I: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin của các doanh nghiệp. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận 8. Tống quan tài liệu nghiên cứu Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trong BCTC của các tác giả trong và ngoài nước ở nhiều thời điểm và trong các phạm vi khác nhau. Các nghiên cứu trên thể giới: Nghiên cứu “Corporate Reporting and Investment Decision” của Cerf (1961) [10]: được xem là khởi đầu cho nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến mức độ công bó thông tin trong báo cáo thường niên.
Cerf (1961) nghiên cứu các báo cáo thường niên của 258 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết trên sàn giao dịch khác, và 156 công ty OTC trong giai đoạn từ. tháng 7 năm 1956 đến tháng 6 năm 1957. Với phương pháp phân tích hồi quy được thực hiện trên 31 mục điểm, tác giả đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa bố công bố thông tin và quy mô tài sản, số lượng cô đông và lợi nhuận. Kể từ đó, chủ đề về công bố thông tin đã thu hút rất nhiều sự chú ý của các0 nhà học thuật ở cả các quốc gia phát triển và đang, phát triển.
Nghiên cứu về “An Empirical Analysis of Quality of Corporate Financial Disclosure” của Singhvi and Desai (1971) [20]: đã thiết kế nghiên cứu mức độ công bé théng tin v6i 34 muc điểm tại 155 tập đoàn công, nghiệp Mỹ và đã báo cáo kết quả là có mi quan hệ đáng kể giữa mức độ công, bố thông tin trên báo cáo thường niên và các đặc điểm công ty. Trong nghiên cứu này không đề cập đến sự khác biệt giữa công bó thông tin bắt buộc và tự nguyện. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau đó được tiến hành tập trung nhiều hơn vào công bố thông tin tự nguyện, chủ yếu ở các nước phát triển và dần dần các đang và kém phát triển bắt đầu đi theo. Bên cạnh đó, so với trong các nghiên cứu trước, số lượng các biến và số lượng các mục điểm trong danh sách công bồ thông tin ngày càng được mở rộng, Nghiên cứu “Factors Influencing Voluntary Annual Report Disclosures By U.
and Continental European Multinational Corporations” cia Gary (1995) [16]: da tién hành kiểm tra mối liên quan giữa một số đặc điểm công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo. cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia tại Hoa Kỳ, Anh và châu Âu trong năm 1989. Một danh sách kiểm tra mức độ công bó chứa 85 mục thông, tin tự nguyện đã được phát triển. Bằng cách sử dụng hồi quy đa tuyến tính, kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, quốc gia, và tình trạng niêm yết quốc tế là ba biến quan trọng nhất giải thích sự khác biệt về mức độ công bố tự nguyện của các công ty trong mẫu điều tra.
Nghién ciru “A cost benefit study of voluntary disclosure: some empirical evidence from French listed companies” cia Depoers (2000) [11]: đánh giá thực nghiệm mức độ công bồ thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của 102 công ty phi tài chính niêm yết được lựa chọn ngẫu nhiên trên thị trường chứng khoán Paris vào năm 1995 và liên kết của nó với các đặc điểm công ty, cụ thể là: quy mô, hoạt động nước ngoài (đo bằng tỷ lệ xuất khâu trên doanh thu bán hàng), chỉ phí sở hữu (được đo bằng tổng tài sản cố định), áp lực lao động, đòn bảy, kích thước công ty kiểm toán và cơ cấu sở hữu. Tác giả đã phát triển chỉ số công bố bao gồm 65 mục thông tin tự nguyện. Nghiên cứu này cho thấy mức độ công bó thông tin tự nguyện liên quan thống. kê với quy mô doanh nghiệp, hoạt động nước ngoài, chỉ phí sở hữu, và áp lực lao động Nghiên cứu “Board leadership, outside directors expertise and voluntary corporate disclosures” của Gul và Leung (2004) [15]: đã tiến hành một nghiên cứu đề kiểm tra mối quan hệ giữa cơ cấu lãnh đạo hội đồng, quản trị, cụ thể là kiêm nhiệm của CEO, tỷ lệ các giám đốc bên ngoài trong, HĐQT và mức độ công bố thông tin tự nguyện của 385 công ty niêm yết phi tài chính trong năm 1996 tại Hồng Kông.
Một danh mục công bố gồm 44 mục thông tin được phát triển để đo lường mức độ công bó thông tin tự nguyện. Tác giả đã sử dụng các phương pháp tiếp cận không trọng số để tính toán số điểm công bố thông tin tự nguyện. Sử dụng phân tích hồi quy đa biến, kết quả cho. thấy rằng sự kiêm nhiệm vị trí của CEO có liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện thấp hơn.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty có tỷ lệ các giám đốc bên ngoài trong hội đồng quản trị liên quan với việc công bố tự nguyện thấp hơn. Trong một nghiên cứu tại Ả Rập, "The association between firm specific characteristics and disclosure: The case of Saudi Arabia" của Alsaeed (2006) [8]: đã kiểm tra tác động của một số đặc điềm của công ty đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của một mẫu gồm 40 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Ả Rập. Một danh sách công bố bao gém 20 muc théng tin duge sir dung như một thước đo để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên. Mối liên hệ giữa mức độ công bó thông tin tự nguyện và các đặc điểm đã được kiểm tra bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa tuyến tính.
Các kết quả được tìm ra bởi Alsaeed (2006) cho thấy rằng có một liên kết tích cực đáng kề giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bó tự nguyện. Ở Trung Quốc, Huafang and Jianguo (2007) đã nghiên cứu "Ownership structure, board composition and corporate voluntary disclosure: Evidence from listed companies in China" [12]: dé kiém tra tác động của cơ cấu sở hữu (gồm sở hữu nhóm, quyền sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước, quyền sở hữu pháp nhân, và sở hữu nước ngoài) và thành phần hội đồng quản trị (đo bằng tỷ lệ các giám đốc độc lập và kiêm nhiệm vị trí của CEO) đến công bố thông tin tự nguyện của 559 công ty niêm yết tại Trung Quốc. Chỉ số công bố chính thức gồm 30 mục thông tin được phát triển để đo. lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty trong các báo cáo thường niên năm 2002.
Các kết quả thống kê phân tích cho thấy hai khía cạnh của quyền sở hữu, cụ thể là sở hữu nhóm và sở hữu nước ngoài có mối quan hệ ý nghĩa với mức độ công bố tự nguyện. Tuy nhiên, ba khía cạnh khác là quyền sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước và sở hữu pháp nhân không có ý nghĩa liên quan đến công bố tự nguyện. Kết quả cũng cho thấy rằng các biến thành phần hội đồng quản trị liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Một nghiên cứu về đối tượng là ngân hàng của tác giả Nier and Baumann (2006) “Market discipline, disclosure and moral hazard in banking, Journal of Financial Intermediation” [14]: đã điều tra thực nghiệm mức độ công bố thông tin tự nguyện của 729 ngân hàng tại 32 quốc gia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bồ thông tin tự nguyện yêu cầu các ngân hàng giảm thiểu các hoạt động rủi ro và gia tăng sự đảm bảo cho các rủi ro này bằng vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu “The empirical evidence of the voluntary information disclosure in the annual reports of banking companies: The case of Bangladesh” cia Hoissan and Taylor (2007) [13]: đã điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc điểm của NHTM và mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của 20 ngân hàng tư nhân nội địa tại Bangladesh. Các đặc điểm được kiểm tra là kích thước NHTM (đo bằng logarit của tài sản), công ty kiểm toán và khả năng sinh lợi. Để lựa chọn các mục thông tin tự nguyện công bố, tác giả xem xét các nghiên cứu đã sử dụng mục lục công bố như phương pháp luận, công bố thông tin đối với các tổ chức tín dụng được yêu cầu bởi IAS 30 và các mục thông tin được quan tâm bởi các nhóm người sử dụng tiềm năng (cỗ đông, nhà phân tích tài chính, quan chức chính phủ và các kế toán viên chuyên nghiệp).
Một danh mục thông tin 45 điểm được mong đợi sẽ tự nguyện công bó trên báo cáo thường niên của các NHTM tai Bangladesh. Kết quả nghiên cứu tiết lộ rằng kích thước ngân hang và công ty kiểm toán là các biến ảnh hưởng đáng kể quyết định mức độ công, bố thông tin của các ngân hàng. Ngược lại, không có mối quan hệ rõ ràng giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và biến lợi nhuận Cúc nghiên cứu tại Việt Nam Việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến công bồ thông tin được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới sớm hơn so với Việt Nam. Tuy nhiên, trong, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều.
hơn và đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này. Qua quá trình tham khảo và tìm hiểu của mình, tác giả xin nêu một số bài báo và đề tài nghiên cứu. như sau: 10 Luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”- Nguyễn Thị Phượng Hồng (2016) [1]: đề tài phân tích đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bó, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.