CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu về công bố thông tin đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và thu hút rất nhiều sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Từ năm 1960 đã có sự quan tâm ngày càng nhiều tới các nghiên cứu về công bố thông tin kế toán. Có hai cách tiếp cận khá khác nhau trong nghiên cứu công bố thông tin kế toán xuất hiện trong các tài liệu. Cách tiếp cận đầu tiên chủ yếu dựa trên việc gửi các mẫu câu hỏi cho một số người sửa dụng kế toán tài chính yêu cầu họ xếp hàng các mục kế toán cụ thể theo mức độ quan trọng của họ đối với các quy trình ra quyết định (Buzby, 1974; Firth, 1978; chandra 1974; turkey, 1985).
Nhóm thứ hai đề cập đến mối quan hệ giữa chỉ số công bố thông tin được xây dựng từ công bố thông tin kế toán bắt buộc hoặc tự nguyện hoặc cả hai với các đặc điểm của công ty. Phần lớn các nghiên cứu thăm dò mối liên kết giữa mức độ công bố thông tin và đặc điểm của công ty đã được áp dụng cho các nước phát triển như: Vương quốc Anh (Spero, 1979; Firth, 1979); Hoa Kỳ (Buzby, 1975; Lang và Lundholm, 1993); Canada (Belkaoui và Kahl, 1978);Thụy Điển (Cooke, 1989); Thụy Sĩ (Raffournier, 1995); Nhật Bản (Cooke, 1992); và Hồng Kông (Wallace và Naser, 1995). Một nhóm nghiên cứu nhỏ hơn đã kiểm định các nước đang phát triển như Ai Cập (Mahmood, 1999); Jordan (Naser và cộng sự, 2002); Nigeria (Wallace,1987); và Bangladesh (Ahmed và Nicholls, 1994). Ngoài ra, một số nghiên cứu đã thông qua một phương pháp so sánh để đánh giá mức độ công bố thông tin ở hai hay nhiều quốc gia ví dụ như: Barrett (1977), Zarzeski (1996) và Camfferman và Cooke (2002).
Năm 1992 Cooke (1992) trong nghiên cứu “The Impact of Size, Stock Market Listing and Industry Type on Disclousure in the Annual Reports of Japanese Listed Corporations” xem xét các công ty chưa niêm yết, niêm yết, và niêm yết đa quốc gia ở thị trường Nhật với môi trường kinh doanh độc nhất vô nhị và văn hóa rất độc đáo. Tác giả nghiên cứu 100 bản thuyết minh BCTC bao gồm cả thuyết minh bắt buộc và thuyết minh tự nguyện. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính chỉ số thuyết 9 minh không có trọng số để đánh giá mức độ công bố thông tin. Mỗi mục được thuyết minh thì chấm 1 điểm, không thuyết minh thì chấm 0 điểm, các mục thuyết minh được đánh giá mức độ quan trọng như nhau.
Sau đó dựa trên dữ liệu đã chấm điểm sử dụng mô hình hồi quy đa biến bao gồm các biến như sau: biến quy mô, biến hiện trạng niêm yết; loại hình doanh nghiệp sản xuất hay không sản xuất. Kết quả nghiên cứu chỉ ra quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến công bố thông tin, doanh nghiệp có quy mô lớn thường công bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ; các doanh nghiệp niêm yết công bố nhiều thông tin hơn các doanh nghiệp không niêm yết; các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán trong nước ít công bố thông tin hơn các công ty đa quốc gia; và các doanh nghiệp sản xuất công bố thông tin nhiều hơn các loại hình công ty khác. Nghiên cứu của Ahmed, K. and Nicholls, D (1994) trong bài “The Impact of Non-financial Company Characteristics on Mandatory Disclosure Compliance in Developing Countries: The Case of Bangladesh” về ảnh hưởng các nhân tố liên quan đến đặc điểm của công ty phi tài chính đến việc tuân thủ công bố thông tin bắt buộc ở các nước đang phát triển.
Cụ thể tác giả đã lấy dữ liệu của 63 công ty tại Bagladesh trên 94 mục công bố thông tin để kiểm định mối liên hệ giữa quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, cấu trúc sở hữu, công ty kiểm toán, trình độ của kế toán trưởng với công bố thông tin bắt buộc thông qua sử dụng mô hình hồi quy. Nghiên cứu phát hiện ra rằng công ty đa quốc gia, quy mô công ty và trình độ của kế toán trưởng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc. (1994) với bài nghiên cứu “The relationship between the comprehensiveness of corporate annual report and firm specific chacracteristics in Spain” sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đặc điểm công ty lên công bố thông tin trong báo cáo thường niên. Nghiên cứu tập trung vào mẫu 50 công ty được chọn ngẫu nhiên 100 công ty từ 250 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Madrid và Valencia và 100 công ty phi tài chính chọn ngẫu nhiên từ Sổ đăng kí các công ty Tây Ban Nha ngoài hai sàn chứng khoán trên loại đi 30 công ty giao dịch trên cả hai sàn 10 và 20 công ty chưa niêm yết.
Tác giả đã tìm thấy bằng chứng mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp, tình trạng niêm yết (stock exchange listing) có tương quan dương với công bố thông tin còn tính thanh khoản (liquidity) tương quan âm với công bố thông tin. (1997) trong nghiên cứu “An empirical analysis of the determinants of the extent of disclosure in annual reports of joint stock companies in the Czech Republic” đã tiến hành kiểm tra thực nghiệm một mô hình công bố thông tin cho 50 công ty cổ phần của Cộng hòa Séc được đưa vào chỉ số giao dịch chứng khoán Prague năm 1993. Các biến độc lập được rút ra từ nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây liên quan đến công bố thông tin. Các biến phụ thuộc được dựa trên luật pháp và quy định của cộng hòa Séc liên quan đến công bố tài chính.
Mô hình hồi quy đơn biến ủng hộ sự tồn tại của mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên với quy mô doanh nghiệp, hiệu suất lợi nhuận, rủi ro tài chính và các biến giám sát. Hồi quy đa biến giải thích khoảng 25% phương sai trong công bố thông tin trên báo cáo thường niên. Các biến có ý nghĩa thống kê nhiều bao gồm: loại kiểm toán viên, số lượng nhân viên, trạng thái niêm yết chứng khoán và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Owusu Ansha (1998) trong bài nghiên cứu “The Impact of corporate Atteibutes on the Extent of mandatory Disclosure and Reporting by Listed Companies in Zimbabwe” đã tiến hành một cuộc điều tra thực nghiệm về mức độ ảnh hưởng của tám thuộc tính doanh nghiệp đến công bố thông tin bắt buộc của 49 công ty niêm yết ở Zimbabwe.
Sử dụng 214 mục công bố thông tin bắt buộc, phạm vi công bố thông tin bắt buộc của mẫu các công ty đã được định lượng và sử dụng với dữ liệu cụ thể cho mỗi mẫu công ty để kiểm tra các giả thuyết. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy quy mô công ty, cơ cấu sở hữu, độ tuổi công ty, tập đoàn đa quốc gia và khả năng dự đoán có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng tích cực đến công bố thông tin bắt buộc trên báo cáo đã được kiểm toán. Chất lượng kiểm toán, ngành công nghiệp và thanh khoản không có ý nghĩa thống kê đáng kể. 11 Thêm một nghiên cứu ở Hong Kong của Chen, C.
(2000) trong bài “Association between independent non-executive directors, family control and financial disclosures in Hong Kong” liên quan đến công bố thông tin. Nghiên cứu xem xét liệu công bố thông tin tài chính toàn diện được ủy quyền cho hội đồng quản trị có liên quan tích cực với tỷ lệ các giám đốc không điều hành độc lập (INDs) trong hội đồng quản trị hay không và liệu kiểm soát gia đình có ảnh hưởng đến tính toàn diện của công bố thông tin tài chính không dựa trên mẫu 87 công ty trong 2 năm 1993 và 1994 tại Hong Kong. Nghiên cứu đã phát hiện tỉ lệ INDs trên tổng số giám đốc trong hội đồng quản trị có liên quan tích cực với tính toàn diện của công bố tài chính và mức độ công bố thông tin của các công ty gia đình sẽ thấp hơn so với các công ty không chịu sự kiểm soát gia đình. (2001) trong nghiên cứu “A study of corporate disclosure practices and effectiveness in Hong Kong” đã cung cấp các bằng chứng toàn diện và cập nhật thực tiễn hiện tại và nhận thức được hiệu quả của việc công bố thông tin của các công ty niêm yết trong một nền kinh tế mới nổi của Hong Kong.
Nghiên cứu so sánh nhận thức của các giám đốc tài chính (CFOs) và các nhà phân tích tài chính về hàng loạt các thông tin, về việc công bố và vấn đề hiệu quả của thị trường vốn. Bài nghiên cứu cũng tìm cách xác định liệu nhận thức về các quy định công bố thông tin gia tăng có thể cải thiện chức năng thị trường. Trong khi cả hai nhóm tối tượng tin rằng phần lớn các công ty chỉ áp dụng chiến lược công bố một chiều bảo thủ và sự tồn tại khoảng cách truyền thông thì các nhà phân tích lại nhận thấy nhu cầu cao hơn so với cá CFO đối với việc gia tăng tuân thủ các quy định của báo cáo tài chính. Cả hai nhóm đều nghĩ rằng chỉ riêng việc tăng cường yêu cầu công bố thông tin có thể đủ để giảm thiểu khoảng cách truyền thông này.
Thêm vào đó họ cũng đề nghị cải thiện chất lượng truyền thông và quy trình công bố thông qua các phương tiện truyền thông phù hợp hơn, xây dựng chuyến lược công bố chủ động hơn, tăng cường mối quan hệ nhà đầu tư và tự nguyện cung cấp thêm thông tin mong muốn của người sử dụng báo cáo tài chính. 12 Patricia Teixeira Lopes, Lucsia Lima Rodrigues (2002) trong nghiên cứu “Accounting for Financial Instruments: An analysis of the Determinants of Disclosure in the 6 Portuguese Stock Exchange” đã phân tích tác động của các nhân tố quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp, chủ thể kiểm toán, tình trạng niêm yết, hoạt động kinh doanh đa quốc gia, đòn bẩy tài chính, tầm quan trọng của cổ động đến công bố trên thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha. Áp dụng phương phát thống kê mô tả, hồi quy đa biến trên mẫu gồm 55 công ty niêm yết ở Bồ Đào Nha đến ngày 31/12/2001. Tác giả phát hiện ra rằng quy mô doanh nghiệp, hiện trạng niêm yết, đòn bẩy tài chính ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin.
Quy mô doanh nghiệp càng lớn, sử dụng đòn bẩy tài chính càng nhiều thì công bố thông tin càng cao. Bên cạnh đó các doanh nghiệp niêm yết trong nước thì mức độ công bố thông tin thấp hơn các doanh nghiệp niêm yết ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên nghiên cứu thực hiện trên mẫu khá nhỏ chỉ có 55 doanh nghiệp nên kết quả chưa mang tính đại diện cao.