chương 1 hướng tới việc xác định khoảng trống trong các nghiên cứu trước, từ đó làm cơ sở để tác giả đề xuất hướng nghiên cứu mới trong luận án này. Để đạt được các mục tiêu đề ra, tác giả lần lượt tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước từ các tạp chí uy tín như Accounting Review, Corporate Social Responsibility and Enviromental Management, Journal of Business Research, Journal of Business Ethics, Journal of Management Studies, Social Responsibility Journal, Sustainability, Review of Accounting Studies. Sau đó tác giả trình bày tổng hợp lại thành các chủ đề: (1) Tổng quan nghiên cứu thông tin PTBV ở nước ngoài; (2) Tổng quan nghiên cứu thông tin PTBV tại Việt Nam và (3) Xác định khoảng trống nghiên cứu. Nội dung cụ thể được trình bày như sau: 1.
Tổng quan nghiên cứu thông tin phát triển bền vững ở nước ngoài 1. Tổng quan nghiên cứu về thực trạng công bố thông tin phát triển bền vững Theo nghiên cứu của Adams và cộng sự (1998) cho thấy trong những giai đoạn đầu, thông tin liên quan đến trách nhiệm xã hội và môi trường ít được các doanh nghiệp quan tâm và công bố trong BCTN cũng như các báo cáo độc lập khác. Sau đó, xuất phát từ những cuộc khủng hoảng kinh tế, sự sụp đổ của các tập đoàn lớn, sự thay đổi của môi trường. nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến sự PTBV của doanh nghiệp.
Một trong những kênh để đánh giá sự PTBV đó chính là thông tin PTBV mà các doanh nghiệp công bố. Do đó, để thấy được thực trạng công bố thông tin PTBV của các doanh nghiệp như thế nào, những nghiên cứu sau đây đã thực hiện các cuộc điều tra đánh giá tại nhiều quốc gia khác nhau như: - Chih và cộng sự (2008) thực hiện điều tra với bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 46 nước trong giai đoạn từ năm 1993-2002. Chỉ số TNXH được nhóm tác giả đo lường dựa trên chỉ số phát triển toàn Thế Giới (FTSE) cho mỗi quốc gia. Kết quả thống kê cho thấy năm quốc gia có điểm số xếp hạng TNXH cao nhất lần lượt gồm Anh, Phần 10 Lan, Đan Mạch, Đức và Ý.
Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý trong cuộc điều tra này đó là điểm số xếp hạng TNXH ở hầu hết các nước thị trường mới nổi (như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Phillipines, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ. Điều này cho thấy các công ty ở các nước phát triển quan tâm nhiều đến thông tin TNXH hơn các công ty ở các nước thị trường mới nổi. - Tập trung vào thị trường các nước Châu Á, Scholtens và Kang (2013) phân tích dữ liệu gồm 139 công ty ở mười quốc gia. Điểm số TNXH được nhóm tác giả đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu Bền vững Châu Á.
Kết quả xếp hạng cho thấy các nước có điểm xếp hạng TNXH cao lần lượt là Úc, Ấn Độ, Nhật Bản. Nước có điểm số xếp hạng thấp gồm Pakistan, Singapore và Thái Lan. Tại thị trường Indonesia, Asrori và cộng sự (2019) đã phân tích dữ liệu thông tin TNXH và môi trường của các công ty niêm yết ngành sản xuất năm 2009 và nhận thấy mức độ công bố thông tin tương đối thấp mặc dù đã có những quy định từ phía chính phủ. - Sử dụng khuôn khổ quốc tế GRI để đánh giá thông tin PTBV, Martínez‐ Ferrero và cộng sự (2015) phân tích dữ liệu gồm 747 doanh nghiệp phi tài chính đến từ 25 quốc gia (Mỹ, Anh, Ireland, Canada, Úc, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Áo, Đan Mạch, Nauy, Phần Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kong, Singapore và Hàn Quốc) trong giai đoạn từ năm 2002 - 2010.
Với thang điểm từ 0 đến 3, Bảng mô tả thống kê cho thấy giá trị trung bình thông tin PTBV là 0. Điều đó cho thấy, nhìn chung các công ty được điều tra có mức độ công bố thông tin PTBV theo hướng dẫn GRI chỉ ở mức cơ bản. - Nhằm điều tra xem liệu số lượng và chất lượng thông tin TNXH có khác nhau giữa các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Anh, Adnan và cộng sự (2018) thu thập dữ liệu gồm 203 công ty hàng đầu lấy từ bộ dữ liệu Compusat Global and Mergen Online. Nhóm tác giả cũng sử dụng khuôn khổ GRI gồm 65 chỉ số để đánh giá thông tin TNXH.
Chất lượng từng chỉ số thông tin được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 4. Nhóm tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích nội dung trên BCTN, Báo cáo bền vững và trang điện tử công ty. Kết quả cho thấy thông tin về môi trường được công bố 11 nhiều nhất, tiếp theo là thông tin liên quan đến lực lượng lao động, rồi đến thông tin xã hội và các vấn đề về quyền con người được công bố ít nhất. Ngoài ra, kết quả thống kê cho thấy các tập đoàn ở Anh có số lượng (dựa trên số câu) công bố thông tin TNXH nhiều nhất.
Tiếp theo là Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc. Về chất lượng thông tin TNXH, nhìn chung được đánh giá là thấp. Điểm chất lượng trung bình cho Báo cáo TNXH riêng và trang điển tử cao hơn điểm trên BCTN. Bằng việc kiểm tra T-test và Mann-Whitney, kết quả cho thấy số lượng và chất lượng thông tin TNXH có sự khác nhau đáng kể giữa bốn quốc gia.
Các công ty ở Anh cung cấp số lượng và chất lượng thông tin TNXH ở mức cao nhất. Đối với các nước đang phát triển, các công ty ở Trung Quốc cung cấp thông tin ở mức thấp nhất trên tất cả các phương tiện truyền tin. Trong khi, Malaysia được chứng minh là nước cung cấp thông tin TNXH cao nhất trên BCTN. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng thông tin kế toán đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững 1.
Bối cảnh đa quốc gia và các nước phát triển Đầu tiên, nghiên cứu của Prior và cộng sự (2008) phân tích mẫu gồm 593 công ty đến từ 26 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2002-2004 thuộc bộ dữ liệu SiRi ProTM để kiểm định ảnh hưởng của QTLN đến mức độ công bố thông tin TNXH. Trong đó, hành vi QTLN được nhóm tác giả đo lường theo mô hình của Kothari và cộng sự (2005). Thông tin TNXH là một khái niệm đa cấu trúc được nhóm tác giả phân tích trên các nội dung liên quan đến cộng đồng, cổ đông, khách hàng, nhân viên, môi trường và nhà cung cấp. Kết quả thu được từ việc xử lý hồi quy, Prior và cộng sự (2008) nhận thấy QTLN ảnh hưởng cùng chiều đến thông tin TNXH.
Bằng việc sử dụng thang đo chất lượng các khoản dồn tích theo mô hình P. Dechow và Dichev (2002) để xác định giá trị biến chất lượng thông tin kế toán, McDermott (2011) đã tập hợp dữ liệu từ KLD STATS giai đoạn từ năm 1992-2009. Tác giả thấy rằng các doanh nghiệp công bố thông tin BCTC có giá trị thì sẽ cắt giảm các hoạt động đầu tư vào TNXH. Trong đó, hiệu quả hoạt động TNXH được đánh 12 giá dựa trên bảy tiêu chí gồm cộng đồng, quản trị công ty, sự đa dạng, mối quan hệ với nhân viên, môi trường, quyền con người và sản phẩm.
Choi và cộng sự (2013) phân tích dữ liệu trong bảy năm từ năm 2002 đến năm 2008 các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Hàn Quốc. Để đo lường mức độ hoạt động TNXH, nhóm tác giả sử dụng bộ chỉ số KEJI. Bộ chỉ số này có bảy hạng mục gồm cấu trúc vốn, sự công bằng trong thương mại, đóng góp cho cộng đồng, sự hài lòng của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, sự hài lòng của nhân viên và những đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Biến QTLN được đo lường theo mô hình của P.
Dechow và cộng sự (1995). Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy mức độ QTLN ảnh hưởng ngược chiều đến hoạt động TNXH tại Hàn Quốc. Điều này có nghĩa là các công ty báo cáo lợi nhuận có chất lượng thì cũng có xếp hạng TNXH tốt hơn. Cũng tập trung vào một quốc gia, Gavana và cộng sự (2017) kiểm tra ảnh hưởng của QTLN đến thông tin TNXH.
Với mẫu gồm 226 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Ý trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015, kết quả nghiên cứu cho thấy các tập đoàn có mức độ QTLN thấp có xu hướng công bố nhiều thông tin TNXH để truyền tải hình ảnh đạo đức tốt. Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả thu thập dữ liệu tài chính từ nguồn dữ liệu Analisi Informatizzata Delle Aziende Italiane (AIDA) và BCTC hợp nhất. Đối với dữ liệu phi tài chính, nhóm tác giả thu thập thủ công từ báo cáo TNXH mỗi năm. Thông tin TNXH được đo theo bộ chỉ số quốc tế GRI và chia thành 93 chỉ số với thang điểm đánh giá 0 và 1.
Mức độ QTLN được đo lường theo mô hình John điều chỉnh của P. Dechow và cộng sự (1995). Không chỉ giới hạn trong phạm vi thông tin TNXH, nghiên cứu về “Tác động của chất lượng thông tin kế toán đến công bố thông tin tính bền vững” được Martínez‐ Ferrero và cộng sự (2015) thực hiện và đăng trên tạp chí CSR and Environmental Management cũng đã chỉ ra những ảnh hưởng của chất lượng thông tin kế toán đến thông tin PTBV. Thông tin PTBV được nhóm tác giả đo bằng chỉ số quốc tế GRI với các giá trị từ 0 đến 3.
Trong đó giá trị 0 nếu thông tin về TNXH không được đơn vị báo cáo hoặc báo cáo không phù hợp với hướng dẫn GRI, giá trị 1 nếu các đơn vị có 13 báo cáo thông tin phù hợp với GRI ở mức cơ bản, giá trị 2 nếu thông tin được các đơn vị báo cáo phù hợp với GRI ở mức trung bình và giá trị 3 nếu các đơn vị báo cáo thông tin phù hợp với GRI ở mức cao. Mẫu được tác giả truy xuất từ bộ dữ liệu Thomson One Analytics trong giai đoạn từ năm 2002 – 2010 gồm 747 doanh nghiệp phi tài chính đến từ 25 quốc gia. Nhóm tác giả đã kết hợp ba thang đo để đánh giá chất lượng thông tin kế toán gồm QTLN thể hiện trong khoản dồn tích bất thường theo mô hình của P. Dechow và cộng sự (1995) và Kothari và cộng sự (2005); mức độ thận trọng của kế toán theo mô hình của M.
Khan và Watts (2009) và chất lượng dồn tích theo mô hình của P. Dechow và cộng sự (2010) và Ball và Shivakumar (2006).