CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu có liên quan 1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước Janet Mack (2006) thực hiện việc nghiên cứu tại Úc với mục tiêu xác định mục đích của BCTC cho mục đích chung của khu vực công Úc và sự hòa hợp giữa mục đích với nội dung của BCTC. Nghiên cứu đã chỉ ra mục đích của người sử dụng BCTC không chỉ là mục đích ra quyết định mà còn sử dụng cho mục đích đánh giá trách nhiệm giải trình của đơn vị báo cáo. Chính vì lẽ đó mà thông tin của BCTC cung cấp phải hữu ích. Yasuhiro Yamada (2007), tác giả cho rằng mục tiêu BCTC quyết định nội dung BCTC.
Thông qua việc so sánh mục tiêu BCTC khu vực công của Nhật và Mỹ là giải trình và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định. Qua đó, tác giả đã cho thấy hai khía cạnh khác nhau rằng: tại Mỹ, đối tượng sử dụng thông tin BCTC khu vực công là công chúng rất được đề cao để đánh giá trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính quyền địa phương; tại Nhật, người Nhật không có nhu cầu đòi hỏi cao về trách nhiệm giải trình của chính phủ. Với họ, việc nộp thuế là nghĩa vụ, dù có sử dụng dịch vụ công hay không họ vẫn phải nộp thuế. Chính vì thế, BCTC khu vực công của Nhật coi trọng việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các cán bộ, lãnh đạo và các đối tượng liên quan khác nhiều hơn là công chúng.
Yasuhiro Yamada đã có kết luận rằng tại Nhật Bản cần đưa mục tiêu cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình là mục tiêu cơ bản của BCTC khu vực công của Nhật trong giai đoạn sau này, đồng thời phải có những biện pháp ràng buộc về pháp lý mạnh để BCTC khu vực công của Nhật cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình. Harun Harun và Haryono Kamase (2012), đã thực hiện nghiện cứu tại Malaysia, một nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, nhóm tác giả đã cho rằng năng lực thể chế thấp của khu vực công là trở ngại lớn nhất cho các quốc gia đang phát triển trong việc theo đuổi cải cách hệ thống kế toán. Tác giả cũng nêu ra định nghĩa về năng lực thể chế trong khu vực công là khả năng của tổ chức để xác định 7 vấn đề, phát triển và đánh giá chính sách lựa chọn thay thế, đồng thời để vận hành các chương trình của chính phủ. Năng lực thể chế thấp đã khiến các nước đang phát triển bị rơi vào tình trạng quan liêu, làm việc không hiệu quả dẫn đến thông tin thiếu minh bạch.
Bên cạnh đó, sự tham nhũng làm cản trở việc cung cấp thông tin kế toán minh bạch và làm cho hệ thống kế toán khu vực ông chậm đổi mới. Ngoài ra, sự hạn chế quyền hành của công chúng trong việc tham gia vào chính sách khu vực ông, sự hạn chế quyền hành của công chúng trong việc tham gia vào chính sách khu vực công và sử dụng thông tin BCTC cũng làm ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin kế toán minh bạch. Từ đó, bộ tài chính Malaysia cho rằng có bốn lý do làm cho việc cải cách kế toán Malaysia theo cơ sở dồn tích là: (1) thiếu nguồn nhân lực có tay nghề cao, đặc biệt la trong lĩnh vực kế toán, (2) quan chức cấp cao trong Chính phủ đã quen thuộc với hệ thống kế toán cũ, (3) thiếu sự hỗ trợ của chính trị, (4) không có chuẩn mực kế toán mà có thể được sử dụng như một công cụ thống nhất cho việc ghi nhận các giao dịch và tiêu chuẩn của các BCTC khu vực công. Nghiên cứu của Choi và Mueller (1984) “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán và sự liên hệ với chất lượng thông tin BCTC”.
Năm 1984, Choi và Mueller đã đưa ra danh sách chi tiết các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển hệ thống kế toán. Các nhân tố đó là: Hệ thống pháp luật Hệ thống chính trị Nguồn gốc sở hữu vốn Cỡ và độ phức tạp của đơn vị Đặc điểm xã hội Mức độ tinh tế, nhạy cảm của môi trường kinh doanh Mức độ suy luận pháp lý Chính sách kế toán hiện tại Tốc độ đổi mới kinh doanh Bối cảnh phát triển kinh tế Phát triển của các thành phần kinh tế 8 Phát triển giáo dục nghề nghiệp và tổ chức nghề nghiệp Từ 12 nhân tố trên, tác giả đã phân thành 5 nhóm thích hợp sau: Môi trường pháp lý Môi trường chính trị Môi trường kinh tế Môi trường văn hóa Môi trường giáo dục, nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp (Zhang, 2005).2 Các nghiên cứu ở trong nước Mai Thị Hoàng Minh (2014), trong bài viết về vận dụng IPSAS để trình bày BCTC NN theo mô hình tổng kế toán NN, theo tác giả những trở ngại, thách thức cho VN khi vận dụng IPSAS để lập BCTC NN bao gồm: (1) chưa hình thành hệ thống kế toán NN thống nhất, phương pháp và nguyên tắc kế toán chưa tuân thủ hoàn toàn thông lệ quốc tế; (2) số liệu kế toán tại các đơn vị kế toán NN chưa đồng bộ; (3) kho bạc NN chưa triển khai và vận hành một cách chỉnh hệ thống thông tin kế toán tập trung; (4) khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ và chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế thị trường; (5) năng lực, trình độ của cán bộ còn bị giới hạn; (6) lộ trình cải cách chậm và nguồn lực tài chính dành cho cải cách kế toán chưa đáp ứng được yêu cầu. Bài báo khoa học của Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga (2014) “Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán”. Trong bài nghiên cứu của mình, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga đã nêu ra những quan điểm, các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT, cụ thể: Nghiên cứu của Ahmad AI – Hiyari and Ctg (2013) đã công bố về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trong công trình nghiên cứu của minh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT: Nhân sự Cam kết quản lý ( cam kết quản lý được hiểu là một cam kết tổng thể mà theo đó không chỉ có sự tham gia của nhà quản lý và nhân viên trao quyền mà còn 9 để làm việc theo nhóm, trong nội bộ nhóm và nối giữa các nhóm, nhằm thực hiện thông tin liên lạc thông suốt trong toàn bộ tổ chức). Hệ thống thông tin Chất lượng dữ liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố chất lượng dữ liệu không có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng TTKT. Nghiên cứu của Rapina (2014) đã kết luận các yếu tố cam kết, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng TTKT. Nghiên cứu của Heidi Vander Bauwhede (2001) nhân tố tiềm năng ảnh hưởng đến báo cáo tài chính (BCTC) bao gồm: Quyết định của nhà quản lý Cơ chế quản lý bên ngoài Cơ chế quản trị nội bộ Các quy định về BCTC Hệ thống pháp luật Cấu trúc tài chính Sự phân tán giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát Nhu cầu và mục tiêu của BCTC Từ những căn cứ nói trên, tác giả bài báo đã đưa ra những nhân tố chung ảnh hưởng đến chất lượng TTKT, bao gồm: Nguồn nhân lực kế toán và nhà quản lý: năng lực, trình độ chuyên môn, trách nhiệm với nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tuân thủ pháp luật của các nhà quản lý doanh nghiệp và nhân lực kế toán.
Hệ thống TTKT: các thiết bị công nghệ thông tin truyền thông, phần mềm kế toán,…ảnh hưởng đến tính kịp thời, tính chính xác, tính đầy đủ của TTKT cung cấp. Môi trường DN: đó là sự hòa quyện giữa yếu tố bên trong và bên ngoài DN có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động của DN gồm có: văn hóa 10 DN, cơ cấu tổ chức, chính sách đãi ngộ, sự cạnh tranh…đều có thể có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng TTKT. Hệ thống văn bản pháp luật và các chuẩn mực liên quan dùng để giám sát việc tuân thủ các quy định về kế toán của NN. Qua đó, tác giả đã xây dựng theo ba nhóm nhân tố là: nhân sự kế toán và các nhà quản lý, môi trường DN, hệ thống văn bản pháp luật.
Sau quá trình phân tích, nghiên cứu để cuối cùng chạy mô hình hồi quy, tác giả đã chứng minh và đi đến kết luận rằng: có 02 nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng TTKT của DN ở VN là nhân sự kế toán và các nhà quản lý, hệ thống văn bản pháp luật. Nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt (2014) “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niểm yết ở Việt Nam” Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết ở VN. Đó là các nhân tố sau: Nhân tố nhà quản trị công ty: được thể hiện thông qua: (1) nhà quản trị của các công ty niêm yết có hiểu biết nhất định về lĩnh vực tài chính – kế toán, (2) nhà quản trị công ty của các công ty niêm yết có khoảng thời gian gắn bó với công ty lâu dài và cuối cùng là (3) nhà quản trị của các công ty niêm yết xây dựng được giá trị cốt lõi cho công ty. Nhân tố lợi ích và chi phí khi lập BCTC: được thể hiện thông qua: (1) chi phí và lợi ích khi lập BCTC của các công ty niêm yết phụ thuộc vào các chính sách kế toán của Bộ tài chính, (2) chi phí và lợi ích khi lập BCTC của các công ty niêm yết phụ thuộc vào quy trình kế toán của công ty và cuối cùng là (3) chi phí lập BCTC của các công ty niêm yết thường được cân nhắc trong mối quan hệ với lợi ích đạt được của công ty.