phần Mở đầu, Kết luận, các Phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 5 chương như sau: hương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu iên quan đến uận án. Chương này tổng quan về các nghiên cứu, lý thuyết trước đó liên quan đến đề tài luận án. Trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu trước và những hạn chế của các kết quả nghiên cứu đó, tác giả tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án. hương 2: ơ sở ý uận về ế toán trách nhiệm xã hội và doanh nghiệp FDI & các giả thuyết nghiên cứu.
Chương này hệ thống hóa và làm sáng tỏ các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến trách nhiệm xã hội, kế toán trách nhiệm xã hội, các nhân tố tác động đến việc áp dụng KTTNXH, DN FDI; Đồng thời, xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất trong luận án. hương 3: hương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày những phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án để đạt được mục tiêu đã đặt ra bao gồm phương pháp thu thập dữ liệu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu. hương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến kế toán trách nhiệm xã hội tại doanh nghiệp FDI ở Việt Nam.
Nội dung của chương này trình bày thực trạng KTTNXH tại các DN FDI ở Việt Nam. Khám phá và thảo luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI ở Việt Nam. hương 5: Giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy áp dụng kế toán trách nhiệm xã hội tại các DN FDI ở Việt Nam. Chương này đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp và khuyến nghị một số chính sách tới các cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy việc áp dụng KTTNXH trong các doanh nghiệp FDI; 6.
Những đóng góp mới của luận án Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau: n 8 a. Về lý luận Luận án đã tổng hợp tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, hệ thống lý thuyết về KTTNXH. Đề xuất khái niệm về Kế toán trách nhiệm xã hội. Dựa trên cơ sở lý thuyết chính là Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) – TRA và Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior) – TPB, Lý thuyết thể chế và Lý thuyết hợp pháp hóa luận án xây dựng mô hình; kiểm định giả thuyết nghiên cứu; xác định các nhân tố tác động đến việc áp dụng KTTNXH của các DN FDI gồm: nhận thức nhà quản trị, nhận thức kế toán viên, đặc điểm DN FDI, khung pháp lý, áp lực xã hội, áp lực cạnh tranh ngành.
Về thực tiễn Luận án đã phân tích và đánh giá được thực trạng công tác KTTNXH của các DN FDI tại Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá các kết quả và hạn chế của thực trạng, luận án đã chỉ ra được những nguyên nhân của những hạn chế đó. Luận án đã sử dụng hai phương pháp định lượng để kiểm định mô hình giả thuyết nghiên cứu để tăng tính thuyết phục cho kết quả nghiên cứu: phương pháp khám phá nhân tố EFA và phương pháp PLS-SEM với số mẫu nghiên cứu 439 mẫu ngẫu nhiên cho kết quả gồm 6 nhân tố tác động cùng chiều đến áp dụng KTTNXH tại DN FDI gồm: nhận thức nhà quản trị, nhận thức kế toán viên, đặc điểm DN FDI, khung pháp lý, áp lực xã hội, áp lực cạnh tranh ngành. Trong các nhân tố trên, nhân tố về nhận thức nhà quản trị, nhận thức kế toán viên và đặc điểm DN FDI có tác động và ảnh hưởng lớn nhất đến áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
Luận án đã đưa ra các giải pháp và khuyến nghị cho DN và nhà quản lý để tăng cường việc áp dụng KTTNXH tại các DN FDI ở Việt Nam trong thời gian tới. n 9 HƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QU N ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành chủ đề nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm trong vài thập kỷ gần đây. Có rất nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu về TNXH được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau.
Khi đề cập đến chủ đề TNXH, hầu hết các tác giả trên thế giới đều đi từ khái niệm TNXH rồi mới mở rộng và nghiên cứu chuyên sâu về các mối quan hệ và các vấn đề liên quan. Trong khuôn khổ mục tiêu và nhiệm vụ của Luận án, tác giả tập trung nghiên cứu về TNXH đối với các bên liên quan của DN: người lao động, khách hàng, cộng đồng, nhà đầu tư, môi trường. sẽ mang đến đa dạng các lợi ích cho các đối tượng này. Do đó, việc thực hiện TNXH một cách chất lượng, thực sự nghiêm túc sẽ mang đến lợi ích trực tiếp cho các bên liên quan, qua đó mang đến lợi ích gián tiếp cho DN trong dài hạn (Waddock & Graves, 1997; Luo & Bhattacharya, 2009).
Trách nhiệm xã hội đối với người lao động. Các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò và những nội dung của hoạt động TNXH này với người lao động. Turban and Greening (1997); Tsoutsoura (2004); Bauman và Mashruwala (2007) có cùng kết luận: các DN có cam kết TNXH mạnh thường có khả năng thu hút nhân tài và giữ chân người lao động dẫn đến giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo. TNXH tác động tích cực đến mức độ cam kết của lao động vào các công việc được giao và kết quả làm tăng hiệu quả kinh doanh (Kang, 2009; Wieseke, et al.
TNXH có tác động ngược chiều với sự bỏ việc của nhân viên và tăng tỷ lệ tuyển dụng được các nhân lực chất lượng cao trong tương lai (Carroll & Shabana, 2010; DeTienne, Agle, Phillips, & Ingerson, 2012). Solomon và Hanson (1985) chỉ ra rằng các hoạt động liên quan đến TNXH sẽ giúp cải thiện tinh thần của nhân viên, trong khi Banker và Mashruwala (2007) chỉ ra các DN thực hiện TNXH có mức độ thoả mãn trong công việc của nhân viên cao hơn. Lee et al., (2012) chỉ ra nhận thức của nhân viên về TNXH có tác động tích cực đến hiêu quả hoạt động của các công ty Hàn uốc, mối quan hệ của nhân viên và DN thực hiện TNXH cũng tốt hơn. Trách nhiệm xã hội đối với khách hàng.
Nghiên cứu của Sen và Bhattacharya n 10 (2011) chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thái độ và hành vi của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty thực hiện các hoạt động TNXH. Khách hàng dựa vào danh tiếng của DN để đánh giá sản phẩm, vì vậy một DN có danh tiếng tốt sẽ đem lại những nhận định tích cực hơn đối với chất lượng sản phẩm và dịch vụ của DN đó (Shapiro, 1983). Xueming Luo & Bhattacharya (2006), Saei et al., (2015), Fatma và Rahman (2016), và Karaosmanoglu et al., (2016) chỉ ra rằng TNXH giúp gia tăng sự hài lòng, lòng trung thành và làm tăng doanh số bán hàng thông quan biến trung gian nhận thức của khách hàng. Carroll & Shabana (2010) và Drucker (1984) khẳng định TNXH có thể giúp DN thu hút các khách hàng mới.
Trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng. Okeudo (2012) tìm ra mối quan hệ thuận chiều giữa TNXH và lợi ích cho toàn xã hội. Thực hiện TNXH không chỉ mang lại những lợi ích từ thiện mà còn giúp tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, bởi cơ sở hạ tầng sẽ được cải thiện giúp điều kiện kinh doanh tại các khu vực này trở nên hấp dẫn hơn. Phạm Văn Đức (2010) chỉ ra rằng việc thực hiện TNXH là cách DN đóng góp lợi ích cho cộng đồng và xã hội cũng như giúp bản thân DN phát triển bền vững.
Sự phát triển của các nghiên cứu về TNXH đã được các tổ chức trên thế giới hợp thức hóa qua các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14000, EMAS, và OHSAS 18000 cùng với các quy định về môi trường ở các quốc gia khác nhau. Các hoạt động TNXH với môi trường nhấn mạnh vào các vấn đề như xử lý chất thải có trách nhiệm và tiêu chuẩn khí thải, bảo tồn tài nguyên “xanh”, đào tạo và phát triển công nghệ môi trường. Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2009) đã khẳng định TNXH là việc các DN tối đa lợi nhuận nhưng vẫn phải thực hiện được các nghĩa vụ với môi trường. Trách nhiệm xã hội với nhà đầu tư.
Nghiên cứu của Gillis và Spring (2001) khẳng định các nhà đầu tư muốn đầu tư vào các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội. TNXH được thực hiện với nhà đầu tư khi các doanh nghiệp có những chính sách và hành động tôn trọng và bảo vệ nhà đầu tư như: đảm bảo cung cấp thông tin thường niên; Sử dụng các công ty trung gian để đánh giá hoạt động kinh doanh như: Kiểm toán, các tổ chức đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. n 11 Trần Minh Hòa và Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2014) đưa ra các đối tượng tham gia, ảnh hưởng và hưởng lợi từ việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp bao gồm: Cổ đông/ chủ sở hữu DN, người lao động, đối tác, khách hàng, cộng đồng và các đối tượng khác như cơ quan quản lý, các hiệp hội hay các tổ chức phi lợi nhuận. Nhóm tác giả cho rằng việc thực hiện tốt TNXH trong ngành khách sạn thể hiện ở các mặt sau: Trách nhiệm đối với người lao động, đối với môi trường, với khách hàng, ngoài 3 yếu tố trên ngành khách sạn còn phải thực hiện tốt trách nhiệm với các đối tác, với nhà cung cấp, các cổ đông và nghĩa vụ với nhà nước thông qua đóng thuế cũng như thực hiện các trách nhiệm về pháp luật.
Thực hiện TNXH là hoạt động thường xuyên và được xác định lâu dài của các khách sạn. Hoàng Thu Thủy (2016) đã chỉ ra nội hàm chính phản ánh TNXH gồm có ba điểm: Thứ nhất, DN cần gắn kết lợi ích kinh tể với sự phát triển chung của cộng đồng xã hội; Thứ hai, DN cần trú trọng đến ứng xử với các đối tượng có liên quan trong hoạt động của mình; Thứ ba, DN cần thể hiện trách nhiệm với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, các hoạt động nhân đạo thiện nguyện nhằm đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội. Trần Ngọc Mai (2021) chỉ ra thực trạng thực hiện TNXH của các DN FDI tại Việt Nam đối với 4 bên liên quan: Chính phủ, người lao động, khách hàng và cộng đồng. Đồng thời tác giả cũng phân tích việc thực hiện TNXH với 4 bên liên quan này đều tác động nâng cao danh tiếng của các DN FDI.