Tổng quan về luận án
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu thực hành và công bố thông tin trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) nhằm hướng đến các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) đã trở thành chuẩn mực bắt buộc trong quản trị kinh doanh hiện đại. Tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò động lực tăng trưởng cốt lõi: tính đến giai đoạn nghiên cứu, cả nước có hơn 20.000 doanh nghiệp FDI từ 101 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút 4,5 triệu lao động (chiếm 31,1% tổng lao động cả nước), đóng góp 18,7% GDP, khoảng 10% thu ngân sách và chiếm tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu (Tổng cục Thống kê, 2020; Cục Đầu tư nước ngoài, 2020). Tuy nhiên, mặt trái từ khu vực này cũng bộc lộ gay gắt khi 80% dự án sử dụng công nghệ trung bình, 14% công nghệ lạc hậu và chỉ vỏn vẹn 6% sở hữu công nghệ cao; đi kèm với đó là các rủi ro ô nhiễm môi trường, tranh chấp lao động và nợ đọng bảo hiểm. Kế toán trách nhiệm xã hội (Social Responsibility Accounting - KTTNXH) được xem là công cụ quản trị chiến lược giúp ghi nhận, đo lường, kiểm soát và minh bạch hóa các chi phí - lợi ích xã hội và môi trường. Dẫu vậy, việc áp dụng KTTNXH tại khối FDI ở Việt Nam vẫn còn phân mảnh, mang tính tự phát và đối mặt với khoảng trống pháp lý lớn khi văn bản điều chỉnh duy nhất mới dừng lại ở Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin phát triển bền vững cho các công ty niêm yết.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng yếu được xác định là: Hầu hết các công trình tiền nhiệm trên thế giới và tại Việt Nam mới chỉ tiếp cận KTTNXH dưới lăng kính đơn lẻ của Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) hoặc Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory), tập trung chủ yếu vào các công ty niêm yết quy mô lớn (Haslinda Yusoff et al., 2016; Nguyễn Minh Phương, 2017; Đinh Thế Hùng et al., 2019). Hoàn toàn vắng bóng một mô hình tích hợp đa chiều kết hợp giữa Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) và Lý thuyết hợp pháp hóa (Legitimacy Theory) để giải thích cơ chế hình thành nhận thức và chuyển hóa thành hành vi áp dụng KTTNXH đặc thù trong khối doanh nghiệp FDI tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (Mã số: 9340101) của Nghiên cứu sinh Trần Thị Thoa, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hằng và TS Nguyễn Phúc Hiền tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, 2023), đã giải quyết triệt để vấn đề này qua hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu và 6 giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Những nhân tố nào tác động đến việc áp dụng KTTNXH tại các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng tổ chức, ghi nhận và công bố thông tin KTTNXH tại các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2022 diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân tố đến việc áp dụng KTTNXH tại các doanh nghiệp FDI ra sao?
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Những hàm ý quản trị và giải pháp chính sách nào có tính khả thi nhằm thúc đẩy việc thực hành KTTNXH tại khối doanh nghiệp FDI thời gian tới?
Hệ thống giả thuyết kiểm định gồm:
- H1: Nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp (NTQT) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
- H2: Nhận thức của kế toán viên (NTKT) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
- H3: Đặc điểm doanh nghiệp FDI (DDDN) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
- H4: Khung pháp lý về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (KPLY) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
- H5: Áp lực xã hội về thực hiện trách nhiệm xã hội (ALXH) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
- H6: Áp lực cạnh tranh ngành (ALCT) tác động cùng chiều (+) đến việc áp dụng KTTNXH tại DN FDI.
Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát các doanh nghiệp FDI trên phạm vi toàn quốc; phạm vi thời gian dữ liệu thứ cấp từ năm 2015 đến tháng 6/2022 (gắn với cột mốc Việt Nam ký kết 13 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, điển hình là EVFTA); dữ liệu sơ cấp được thu thập chính thức từ tháng 10 đến tháng 12/2021 với quy mô mẫu khảo sát hợp lệ $N = 439$ doanh nghiệp.
Literature Review và Positioning
Lịch sử phát triển học thuật về KTTNXH ghi nhận sự tiến hóa từ trường phái "kế toán kinh tế xã hội" (Socio-Economic Accounting) của Mobley (1970) với định nghĩa nền tảng: "Kế toán kinh tế xã hội đề cập đến việc thiết lập, đo lường và phân tích hậu quả về mặt xã hội và kinh tế của hành vi của chính phủ và doanh nghiệp", cho đến lý thuyết mở rộng của Ramanathan (1976), Gray và cộng sự (1993), Mathews (1997) và Gray (2002). Gray và cộng sự (1993) khẳng định: "Kế toán xã hội và môi trường bao gồm tất cả các lĩnh vực kế toán có thể bị ảnh hưởng bởi tác động của hoạt động kinh doanh đến các vấn đề môi trường", từ đó định hình các đối tượng ghi nhận phi truyền thống bao gồm tài sản môi trường, nợ tiềm tàng môi trường và chi phí phúc lợi xã hội.
Trong bức tranh học thuật quốc tế, tồn tại hai luồng quan điểm đối nghịch sâu sắc về động cơ và hiệu quả của KTTNXH:
- Trường phái tân cổ điển và lý thuyết người đại diện (Agency Theory): Đại diện bởi Friedman (1970) và các phát hiện thực nghiệm của Doherty & Meehan (2004), Amos Otuma Nkaiwatei (2011), Makori & Jagongo (2013) tại Ấn Độ. Luồng quan điểm này chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa công bố báo cáo môi trường với Tỷ suất sinh lời trên vốn sử dụng (ROCE) và Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), cho rằng việc phân bổ nguồn lực cho các nghĩa vụ phi tài chính tạo ra gánh nặng chi phí, làm phát sinh "đầu ra phi sản phẩm" và xung đột lợi ích với mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông.
- Trường phái lý thuyết thể chế và các bên liên quan (Stakeholder & Institutional Theory): Được bảo vệ bởi Gray et al. (1993), Henriques & Richardson (2004) với mô hình Triple Bottom Line (TBL), và các nghiên cứu thực nghiệm của Sabha & Shoubaki (2013), Salam N. Al-Moumany & Mohammad A. Obeidat (2014) tại Jordan. Nhóm tác giả này chứng minh việc thực hành KTTNXH giúp nâng cao danh tiếng thương hiệu, giảm thiểu rủi ro pháp lý, gia tăng giá trị doanh nghiệp và cải thiện biên lợi nhuận ròng (NPM) trong dài hạn.
Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế điển hình:
- Tại Thái Lan: Nongnooch Kuasirikun (2004) khảo sát các doanh nghiệp niêm yết và nhận thấy nhận thức của kế toán viên thúc đẩy mạnh mẽ việc lập báo cáo xã hội theo tiêu chuẩn ISO, song nghiên cứu chỉ dựa trên dữ liệu thứ cấp và phân tích định tính mô tả, thiếu kiểm định mô hình cấu trúc.
- Tại Kenya: Mwasa, Sira & Leonard (2014) nghiên cứu 57 công ty niêm yết trên sàn Nairobi giai đoạn 2008 – 2010, chỉ ra tỷ lệ lập báo cáo CSR tăng từ 72% (2008) lên 81% (2010) nhưng chủ yếu trình bày thông tin định tính, thiếu vắng các chuẩn mực đo lường chi phí định lượng rõ ràng.
- Tại Malaysia: Haslinda Yusoff, Allezawati Ismail, Radiah Othman & Faizah Darus (2016) khảo sát 821 doanh nghiệp và xác nhận nhận thức của kế toán viên có vai trò chi phối việc áp dụng kế toán xanh, tuy nhiên mô hình chưa bao hàm các biến số môi trường thể chế bên ngoài và áp lực cạnh tranh.
Định vị nghiên cứu của luận án: Khắc phục sự phân mảnh của các nghiên cứu trước, công trình của NCS Trần Thị Thoa định vị vững chắc tại giao điểm giữa lý thuyết hành vi cá nhân và lý thuyết áp lực thể chế vĩ mô, tiên phong kiểm định thực nghiệm một mô hình toàn diện dành riêng cho khối doanh nghiệp FDI tại một quốc gia đang phát triển có độ mở kinh tế cao.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mang lại những đóng góp đột phá trong việc làm giàu và mở rộng đường biên lý thuyết quản trị và kế toán hiện đại:
- Mở rộng Thuyết Hành động Hợp lý (TRA - Fishbein & Ajzen, 1967) và Thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991): Luận án đã chứng minh một cách xuất sắc rằng quyết định áp dụng một hệ thống kế toán phi truyền thống như KTTNXH trong doanh nghiệp không thuần túy là một quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, mà là một "hành vi có kế hoạch" chịu sự chi phối trực tiếp từ nhận thức của hai chủ thể giữ vai trò quyết định: nhà quản trị cấp cao (chủ thể phân bổ nguồn lực) và kế toán viên (chủ thể trực tiếp vận hành kỹ thuật).
- Tích hợp Thuyết Thể chế (Institutional Theory) và Thuyết Hợp pháp hóa (Legitimacy Theory): Dựa trên luận điểm của Ofori & Hinson (2007) rằng "TNXH về cơ bản là một triết lý về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội", nghiên cứu giải thích cách thức các doanh nghiệp FDI phản ứng trước các áp lực thể chế đồng hình (áp lực cưỡng chế từ khung pháp lý, áp lực quy chuẩn từ xã hội, và áp lực bắt chước từ đối thủ cạnh tranh ngành) để tìm kiếm tính hợp pháp (legitimacy) nhằm tồn tại và tối ưu hóa vị thế thị trường.
- Tạo lập bước chuyển dịch nhận thức luận (Paradigm Shift): Chuyển dịch tư duy kế toán từ mô hình đo lường dòng tiền truyền thống khép kín sang mô hình kế toán tích hợp đa chiều theo nguyên tắc SIGMA Project (2003) và bộ tiêu chuẩn GRI (Global Reporting Initiative), công nhận các tác động ngoại sinh về xã hội và môi trường là những yếu tố cấu thành nội tại trong hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được thiết kế đồng bộ thông qua sự kết hợp của 4 trụ cột lý thuyết: TRA, TPB, Lý thuyết Thể chế và Lý thuyết Hợp pháp hóa, thiết lập mối quan hệ tương tác giữa 6 nhóm biến độc lập và 1 biến phụ thuộc:
Định nghĩa và điều kiện biên (boundary conditions) của các thành phần trong mô hình:
- Nhận thức nhà quản trị (NTQT): Mức độ hiểu biết, thái độ ủng hộ và cam kết chiến lược của ban lãnh đạo doanh nghiệp FDI đối với phát triển bền vững và giá trị của KTTNXH.
- Nhận thức kế toán viên (NTKT): Trình độ chuyên môn, sự thông hiểu các chuẩn mực ghi nhận chi phí/doanh thu xã hội - môi trường và kỹ năng lập báo cáo phi tài chính của đội ngũ nhân sự kế toán.
- Đặc điểm doanh nghiệp FDI (DDDN): Tập hợp các yếu tố nội tại bao gồm quy mô vốn, số lượng lao động, tính chất ngành nghề sản xuất, nguồn gốc quốc gia đầu tư và trình độ công nghệ của doanh nghiệp FDI.
- Khung pháp lý (KPLY): Hệ thống các quy định pháp luật về kế toán, thuế, bảo vệ môi trường, luật lao động và các cam kết trong hiệp định thương mại quốc tế điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Áp lực xã hội (ALXH): Yêu cầu và sự giám sát từ cộng đồng địa phương, người tiêu dùng, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và truyền thông báo chí.
- Áp lực cạnh tranh ngành (ALCT): Mức độ thực hành và công bố thông tin CSR/KTTNXH của các đối thủ cùng ngành nhằm chiếm lĩnh thị phần và uy tín thương hiệu.
- Điều kiện biên: Khung phân tích áp dụng đặc thù cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ sang tăng trưởng xanh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo đuổi trường phái nhận thức luận thực chứng (Positivism), kết hợp linh hoạt thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods Research Design) với quy trình 2 giai đoạn chặt chẽ:
- Nghiên cứu định tính sơ bộ (Qualitative Phase): Thực hiện từ tháng 5 đến tháng 7/2021 thông qua tổng quan tài liệu học thuật và phỏng vấn chuyên sâu nhóm chuyên gia (gồm các nhà khoa học, chuyên gia kế toán, đại diện VCCI, CIEM và giám đốc tài chính/kế toán trưởng doanh nghiệp FDI) kết hợp khảo sát thử nghiệm $N = 60$ phiếu nhằm hiệu chỉnh thang đo, bảng hỏi và mô hình lý thuyết.
- Nghiên cứu định lượng chính thức (Quantitative Phase): Thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12/2021 nhằm kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích cấu trúc nhân tố và đánh giá mô hình hồi quy tuyến tính.
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Chiến lược lấy mẫu và chọn mẫu: Do bối cảnh giãn cách xã hội bởi đại dịch Covid-19, nghiên cứu áp dụng phương pháp lấy mẫu phi xác suất thuận tiện kết hợp quả bóng tuyết (snowball sampling) thông qua việc gửi bảng hỏi khảo sát trực tuyến qua Google Form và thư điện tử đến mạng lưới các doanh nghiệp FDI trên cả nước.
- Quy mô mẫu: Phát ra hơn 500 phiếu khảo sát, thu về 495 phiếu (tỷ lệ phản hồi đạt 99%), sau quá trình sàng lọc loại bỏ các phiếu không hợp lệ thu được $N = 439$ quan sát đạt chuẩn (chiếm 87,8% tổng số phiếu phát ra), đáp ứng hoàn hảo quy tắc kích thước mẫu tối thiểu cho phân tích EFA và PLS-SEM (Hair et al., 2014, 2017).
- Kiểm soát độ giá trị và độ tin cậy:
- Độ giá trị nội dung (Content Validity): Kế thừa từ các thang đo chuẩn quốc tế đã được kiểm chứng (Carroll, 1991; Mishra & Suar, 2010; Haslinda Yusoff et al., 2016), dịch thuật chuẩn hóa và hiệu chỉnh qua ý kiến chuyên gia.
- Độ tin cậy nhất quán nội tại (Internal Consistency Reliability): Đánh giá qua hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu $> 0,7$) và Độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR $> 0,7$).
- Độ giá trị hội tụ (Convergent Validity): Đánh giá qua hệ số tải nhân tố (Outer Loadings $> 0,7$) và Phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted - AVE $> 0,5$).
- Độ giá trị phân biệt (Discriminant Validity): Kiểm tra nghiêm ngặt qua tỷ số Heterotrait-Monotrait (HTMT $< 0,85$ hoặc $< 0,90$).
Data và phân tích
Nghiên cứu ứng dụng các công cụ phần mềm chuyên dụng hiện đại: Microsoft Excel, Stata phiên bản 16 và SmartPLS phiên bản 3.0. Kỹ thuật phân tích mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) thế hệ thứ hai được lựa chọn nhờ khả năng tối ưu trong các nghiên cứu mang tính khám phá và dự báo mối quan hệ phức tạp giữa các biến tiềm ẩn mà không đòi hỏi giả định khắt khe về phân phối chuẩn đa biến của dữ liệu (Bentler & Huang, 2014; Dijkstra, 2014).
Quy trình ước lượng mô hình được kiểm định vững chắc thông qua kỹ thuật tái lấy mẫu Bootstrapping với 5.000 phân mẫu lặp lại (resamples), đảm bảo tính ổn định cao của các ước lượng hệ số đường dẫn ($\beta$), sai số chuẩn, giá trị thống kê $t$-value và mức ý nghĩa thống kê ($p$-value với độ tin cậy 95% và 99%).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả phân tích mô hình đo lường và mô hình cấu trúc PLS-SEM đã xác nhận toàn bộ 6 giả thuyết nghiên cứu ($H1$ đến $H6$) đều được chấp nhận với mức ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,05$ và $p < 0,01$), phản ánh 6 phát hiện then chốt:
- Nhận thức của nhà quản trị (NTQT) giữ vai trò quyết định hàng đầu: Tác động mạnh mẽ nhất đến việc áp dụng KTTNXH tại doanh nghiệp FDI. Ban lãnh đạo có hiểu biết sâu sắc về CSR và nhận thức rõ lợi ích chiến lược dài hạn của KTTNXH sẽ chủ động phê duyệt ngân sách, thành lập bộ phận chuyên trách và tích hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững vào hệ thống thông tin kế toán nội bộ.
- Nhận thức và năng lực của kế toán viên (NTKT) là điều kiện thực thi cốt lõi: Trình độ nghiệp vụ, khả năng cập nhật các chuẩn mực GRI/ISO và thái độ sẵn sàng tiếp cận các phương pháp định lượng chi phí xã hội - môi trường của nhân viên kế toán tác động trực tiếp, cùng chiều và mạnh mẽ đến mức độ hoàn thiện của báo cáo KTTNXH.
- Đặc điểm nội tại của doanh nghiệp FDI (DDDN) chi phối quy mô áp dụng: Các doanh nghiệp FDI có quy mô vốn lớn, sử dụng đông lao động, thuộc các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) có bề dày kinh nghiệm và áp dụng công nghệ tiên tiến có xu hướng triển khai KTTNXH toàn diện và bài bản hơn rõ rệt so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, công nghệ thấp.
- Khung pháp lý (KPLY) đóng vai trò đòn bẩy thể chế bắt buộc: Mặc dù hệ thống pháp lý Việt Nam còn thiếu vắng các chuẩn mực kế toán trách nhiệm xã hội riêng biệt, song các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường, thuế bảo vệ môi trường và nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN tạo ra áp lực cưỡng chế buộc doanh nghiệp FDI phải tổ chức theo dõi và ghi nhận chi phí tuân thủ.
- Áp lực xã hội (ALXH) và Áp lực cạnh tranh (ALCT) thúc đẩy tính hợp pháp hóa: Sự gia tăng giám sát từ người tiêu dùng, cộng đồng dân cư địa phương và truyền thông, cùng với cuộc đua nâng cao vị thế thương hiệu xanh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành, tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp FDI công bố báo cáo phát triển bền vững nhằm duy trì "giấy phép xã hội để hoạt động" (Social License to Operate).
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết (Theoretical Advances): Kết hợp thành công mô hình tích hợp TRA - TPB với Lý thuyết Thể chế trong nghiên cứu kế toán quản trị môi trường và xã hội, mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa khoa học hành vi và lý thuyết thể chế tại các thị trường mới nổi.
- Đổi mới phương pháp luận (Methodological Innovations): Cung cấp bộ thang đo chuẩn hóa đã được kiểm định độ tin cậy và giá trị phân biệt bằng PLS-SEM và chỉ số HTMT, có thể chuyển giao và ứng dụng hiệu quả cho các nghiên cứu tiếp theo về kế toán bền vững tại các quốc gia trong khu vực ASEAN.
- Hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp FDI:
- Cần tái cấu trúc hệ thống tài khoản kế toán nội bộ để theo dõi riêng biệt các khoản mục chi phí TNXH (chi phí xử lý chất thải, chi phí kiểm soát ô nhiễm, chi phí bảo hộ lao động, chi phí đào tạo nâng cao tay nghề, tài trợ cộng đồng).
- Tăng cường đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kế toán về lập Báo cáo tích hợp (Integrated Reporting) theo chuẩn mực GRI Standards.
- Khuyến nghị chính sách cho cơ quan quản lý Nhà nước:
- Bộ Tài chính: Khẩn trương nghiên cứu, ban hành Đề án xây dựng Chuẩn mực Kế toán Trách nhiệm Xã hội và Môi trường Việt Nam, tiến tới tích hợp vào Hệ thống Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đang được áp dụng tại Việt Nam; nâng cấp Thông tư 155/2015/TT-BTC thành quy định bắt buộc áp dụng cho toàn bộ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư & Bộ Tài nguyên và Môi trường: Xây dựng cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi tiếp cận tín dụng xanh đối với các doanh nghiệp FDI thực hiện kiểm toán môi trường và công bố báo cáo phát triển bền vững độc lập.
Limitations và Future Research
Mặc dù đạt được những đóng góp khoa học to lớn, luận án thẳng thắn chỉ ra 4 hạn chế nghiên cứu cần được tiếp tục hoàn thiện:
- Hạn chế về phương pháp chọn mẫu: Do đại dịch Covid-19, phương pháp lấy mẫu phi xác suất (thuận tiện và quả bóng tuyết) qua nền tảng trực tuyến có thể làm giảm phần nào tính đại diện ngẫu nhiên cho toàn bộ hơn 20.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên khắp 63 tỉnh, thành phố.
- Hạn chế về dữ liệu cắt ngang (Cross-sectional Data): Dữ liệu sơ cấp được thu thập tại một thời điểm (tháng 10 – 12/2021), chưa phản ánh được sự biến động và tiến trình thay đổi nhận thức cũng như mức độ hoàn thiện hệ thống KTTNXH của doanh nghiệp theo chuỗi thời gian (Longitudinal Study).
- Hạn chế về tính tự báo cáo (Self-reported Bias): Bảng hỏi khảo sát dựa trên ý kiến đánh giá chủ quan của nhà quản trị và kế toán viên, có thể tiềm ẩn sai lệch do người trả lời có xu hướng đánh giá cao hơn thực tế (Social Desirability Bias).
- Chưa phân tầng chuyên sâu theo ngành nghề và quốc gia đầu tư: Luận án phân tích mẫu chung mà chưa đi sâu so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm ngành có mức độ phát thải cao (dệt nhuộm, hóa chất, luyện kim) với nhóm ngành công nghệ thông tin/dịch vụ, hoặc giữa các nhà đầu tư đến từ các quốc gia phát triển (EU, Mỹ, Nhật Bản) với các quốc gia khác.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Mở rộng nghiên cứu dữ liệu bảng (Panel Data) theo dõi hành vi áp dụng KTTNXH trong giai đoạn 5 – 10 năm.
- Ứng dụng phương pháp phân tích so sánh định tính tập mờ (fsQCA) để khám phá các cấu hình nhân tố kết hợp (causal configurations) dẫn đến việc thực thi KTTNXH thành công.
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Cross-country Comparative Studies) giữa các nền kinh tế mới nổi trong khu vực ASEAN (Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia).
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật (Academic Impact): Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng, tạo tiền đề thúc đẩy hàng loạt các đề tài nghiên cứu sau đại học về kế toán bền vững tại Việt Nam, với tiềm năng trích dẫn khoa học cao trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế, tài chính và kế toán uy tín.
- Chuyển đổi thực tiễn ngành (Industry Transformation): Định hướng cho cộng đồng doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 53,8% tổng vốn FDI), xây dựng lộ trình minh bạch hóa dữ liệu phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Ảnh hưởng chính sách công (Policy Influence): Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng xác đáng hỗ trợ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và Cục Đầu tư nước ngoài trong việc hoạch định các khung khổ pháp lý, tiêu chí sàng lọc dự án FDI chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh.
- Lợi ích xã hội và môi trường: Góp phần bảo vệ quyền lợi người lao động, thúc đẩy bảo vệ môi trường sinh thái và gia tăng đóng góp thiện nguyện cho cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp FDI đặt cơ sở sản xuất.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên đại học: Tiếp cận một khung lý thuyết tích hợp hoàn chỉnh và bộ công cụ đo lường thực chứng đã được kiểm định khắt khe về KTTNXH để giảng dạy và phát triển các đề tài chuyên sâu.
- Nhà quản trị và Ban giám đốc doanh nghiệp FDI: Nhận thức rõ cơ chế tác động của nhận thức chiến lược đến hiệu quả vận hành, từ đó chủ động đầu tư nguồn lực nâng cấp hệ thống kế toán trách nhiệm xã hội nhằm gia tăng giá trị thương hiệu.
- Đội ngũ Kế toán viên và Kiểm toán viên: Được cung cấp cơ sở lý luận và hướng dẫn thực tiễn về kỹ thuật ghi nhận, định lượng các đối tượng kế toán môi trường - xã hội theo chuẩn mực quốc tế.
- Cơ quan Hoạch định Chính sách: Sở hữu nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy để hoàn thiện Luật Kế toán sửa đổi, ban hành các thông tư hướng dẫn công bố thông tin phi tài chính bắt buộc đối với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đóng góp độc đáo nhất là việc mở rộng thành công hai lý thuyết hành vi cá nhân kinh điển (TRA của Fishbein & Ajzen, 1967 và TPB của Ajzen, 1991) kết hợp với Lý thuyết Thể chế vào lĩnh vực kế toán quản trị doanh nghiệp FDI. Nghiên cứu chứng minh rằng nhận thức của nhà quản trị và kế toán viên là biến số trung tâm chuyển hóa các áp lực thể chế bên ngoài thành hành động áp dụng KTTNXH cụ thể bên trong doanh nghiệp.
-
Đổi mới phương pháp luận của luận án thể hiện ở điểm nào so với các nghiên cứu trước?
So với nghiên cứu của Nongnooch Kuasirikun (2004) tại Thái Lan chỉ sử dụng thống kê mô tả dữ liệu thứ cấp, hoặc nghiên cứu của Haslinda Yusoff et al. (2016) tại Malaysia chỉ dùng hồi quy OLS bậc một, luận án đã ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM thế hệ thứ hai trên phần mềm SmartPLS 3.0 kết hợp Stata 16, thực hiện kiểm định Bootstrapping 5.000 lần và đánh giá giá trị phân biệt bằng tỷ số HTMT khắt khe trên mẫu khảo sát thực chứng quy mô lớn ($N = 439$).
-
Phát hiện nào trong nghiên cứu mang tính bất ngờ nhất?
Phát hiện bất ngờ là vai trò của nhân tố "Khung pháp lý" (KPLY) dù đạt ý nghĩa thống kê nhưng mức độ tác động lại thấp hơn đáng kể so với "Nhận thức của nhà quản trị" (NTQT) và "Đặc điểm doanh nghiệp" (DDDN). Điều này phản ánh thực trạng các doanh nghiệp FDI tiên phong áp dụng KTTNXH tại Việt Nam chủ yếu xuất phát từ động lực tự nguyện, chuẩn mực quản trị nội bộ của tập đoàn mẹ quốc tế và sức ép từ thị trường xuất khẩu hơn là do sự thúc ép từ các quy định pháp luật sở tại còn nhiều kẽ hở.
-
Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp chi tiết toàn bộ bảng câu hỏi khảo sát, hệ thống thang đo các biến tiềm ẩn với các câu hỏi Likert 5 điểm, quy trình lọc mẫu, bảng ma trận xoay nhân tố (Pattern Matrix), hệ số tải ngoài, các chỉ số kiểm định Cronbach's Alpha, AVE, CR và ma trận HTMT tại các phần phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập hoàn toàn quy trình phân tích.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Định hướng nghiên cứu thập kỷ tới tập trung vào: (1) Đánh giá tác động của KTTNXH đến chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp FDI niêm yết; (2) Ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong tự động hóa thu thập và xác thực dữ liệu KTTNXH theo thời gian thực; (3) Nghiên cứu cơ chế kiểm toán độc lập đối với các báo cáo KTTNXH tại thị trường Đông Nam Á.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS Trần Thị Thoa là công trình khoa học công phu, giải quyết trọn vẹn cả phương diện lý luận và thực tiễn về kế toán trách nhiệm xã hội trong khu vực doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, đúc kết qua các đóng góp nổi bật:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý thuyết toàn diện về KTTNXH, chuẩn hóa định nghĩa và các đối tượng ghi nhận phi tài chính đặc thù trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển.
- Xây dựng và kiểm định thành công mô hình cấu trúc 6 nhân tố tác động đến việc áp dụng KTTNXH với cỡ mẫu khảo sát thực chứng tin cậy ($N = 439$).
- Xác định rõ thứ bậc tác động, khẳng định vai trò then chốt của nhận thức nhà quản trị, năng lực kế toán viên và quy mô doanh nghiệp FDI trong việc định hình hành vi áp dụng KTTNXH.
- Đánh giá bức tranh toàn cảnh về thực trạng phân loại, ghi nhận và công bố thông tin KTTNXH của khối FDI giai đoạn 2015 – 2022, vạch rõ những rào cản và nguyên nhân gốc rễ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp quản trị đồng bộ cho doanh nghiệp FDI và các khuyến nghị chính sách cụ thể cho Bộ Tài chính và các cơ quan Nhà nước nhằm kiến tạo hành lang pháp lý bắt buộc.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới về kế toán bền vững, kiểm toán xanh và báo cáo tích hợp, tạo dựng nền tảng vững chắc cho tiến trình phát triển kinh tế bền vững và hội nhập sâu rộng của Việt Nam.