Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Lý luận chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. [23] Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp. Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tại Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam: “DNFDI gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.[7] Luật đầu tư năm 2014, không đề cập cụ thể đến DNFDI nhưng có đề cập đến đầu tư kinh doanh và nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà 6 Luan van đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” và “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.” [8] Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhưng có thể hiểu một cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định của luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế. Theo khái niệm này, DNFDI khác với các doanh nghiệp khác trong nước là do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ, hoặc một phần. Về quyền quản lý doanh nghiệp thì có thể trực tiếp hoặc tham gia tùy theo lượng vốn góp.
Mục đích của DNFDI trước hết và chủ yếu là ở lợi nhuận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cả quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế. Lý do hình thành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thông thường, người dân nước nào thì sinh cơ lập nghiệp ở nước đó, hoặc sẽ đi xuất khẩu lao động, đi làm thuê ở nước ngoài. Bên cạnh đó, từ lâu ở nhiều nước trên thế giới cũng có những doanh nghiệp mà chủ nhân của nó là người nước ngoài, nhưng những người nước ngoài này có “địa vị pháp lý” hoặc “tư cách pháp nhân/tư cách thể nhân” khá đa dạng và có tính ngẫu nhiên, như ngoại kiều, người di tản, di cư, người tị nạn. khác hẳn những chủ nhân của các doanh nghiệp được gọi là DNFDI ngày nay.
Vậy tại sao cần có loại DNFDI này ở các nước mà trước hết là các nước đang hay chậm phát triển. Thứ nhất, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu toàn diện và không ngừng tăng, trong khi đó, không có quốc gia nào đủ nguồn lực để SXKD nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện và không ngừng tăng đó. Về nhu cầu, dân nước nào cũng cần ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, vui chơi giải trí. với chất lượng ngày càng cao.
Cùng với nhu cầu của sinh hoạt là 7 Luan van nhu cầu về tư liệu sản xuất, cụ thể là năng lượng, nguyên liệu, máy móc thiết bị,. từ thô sơ, sơ cấp đến hiện đại, cao cấp. Về nguồn lực, không phải quốc gia nào cũng có đủ nguồn tài nguyên, đủ vốn, đủ “người tài”, gọi một cách chính xác về thuật ngữ là “lao động chất lượng cao”. Ngay cả Liên bang Xô Viết trước đây, với diện tích bằng 1/6 diện tích toàn thế giới, hay như Trung Quốc, Ấn Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay.
cũng không phải là nước có tất cả mọi nguồn lực. Bên cạnh đó, còn rất nhiều nước thiếu nguyên liệu vì nghèo tài nguyên hoặc có tài nguyên nhưng là thứ tài nguyên cực khó khai thác, sử dụng như Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Châu Âu. Đã từ lâu, dân Việt Nam không dám chủ quan là đất nước mình có “rừng vàng, biển bạc”, vì rừng hiện nay đã bị khai thác nhiều, còn biển thì tuy có dầu mỏ, nhưng với vốn đầu tư và trình độ hiện tại thì người Việt khó để làm ra các sản phẩm có hiệu quả. Chúng ta tuy đã khai thác được dầu mỏ nhưng là nhờ sự trợ giúp về công nghệ của các nước khác, tuy nhiên chúng ta lại xuất khẩu dầu thô thay vì chế biến ra các sản phẩm của hóa dầu, chính vì vậy lợi nhuận không cao.
Thứ hai, trong mọi việc, điển hình là trong SXKD, việc phân công chuyên môn hóa, kế đó là hiệp tác lao động chặt chẽ và tin cậy nhau, là con đường khoa học, hợp lý nhất để mọi công việc được tiến hành với năng suất cao, hiệu quả lớn. Người Việt Nam từ xưa đã xem trọng và phát huy sự chuyên môn hóa trong sản xuất, chính vì vậy, trong mọi hoạt động, người Việt Nam đều đi theo hướng chuyên sâu, việc hình thành nên các làng nghề chuyên biệt, truyền thống là một ví dụ cụ thể. Việc phân công chuyên môn hóa giúp cho công việc trôi chảy, dễ kiểm soát và một người chuyên sâu vào công việc thì sẽ giỏi và dễ xử lý những tình huống khó khăn xảy ra, mang lại năng suất cao, hiệu quả lớn trong công việc. Và trên phạm vi toàn thế giới, toàn cầu hóa và HNKTQT chính là việc làm theo sự phân công chuyên môn hóa đó.
Thứ ba, trên tầm quốc tế, sự toàn cầu hóa và HNKTQT được tiến hành theo bốn kênh chính sau đây: 8 Luan van Một là, trao đổi hàng hóa, gọi khác đi là “ngoại thương”. Hai là, trao đổi lao động hoặc dịch vụ. Riêng về lao động, nói giản đơn là xuất - nhập khẩu lao động. Ba là, trao đổi trí tuệ hay xuất nhập khẩu phát minh sáng chế với nhiều cấp độ khác nhau về quyền sở hữu trí tuệ.
Bốn là, xuất nhập khẩu vốn đầu tư, trong đó có hai dạng: - Cho vay đầu tư, gọi tắt tiếng Anh là ODA. - Các công dân, tổ chức công dân mang vốn của mình sang nước ngoài mở doanh nghiệp và trực tiếp SXKD. Loại vốn đi theo lối này gọi tắt tiếng Anh là FDI, các doanh nghiệp được tạo nên bằng vốn này gọi là DNFDI. Các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Xuất hiện và hoạt động ở nước ngoài, FDI tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp cơ bản sau đây: - DNFDI độc lập: Đó là các DNFDI không tham gia vào các nhóm DN nào của bản xứ.
- DNFDI hợp tác: Đó là các DNFDI độc lập về vốn, về quyền SXKD nhưng là thành viên của một tổ hợp kinh tế nào đó của bản xứ để cùng thực hiện một chương trình mục tiêu chung nào đó, như tổ hợp hóa - dầu, tổ hợp chế biến xenlluloz, tổ hợp cơ khí - luyện kim, tổ hợp công nghiệp vật liệu xây dựn. - DNFDI liên doanh: Đó chính là các công ty cổ phần, trong đó, FDI chỉ là một phần của vốn SXKD của một công ty cổ phần nào đó, phần còn lại là vốn của nhà nước hoặc của doanh nhân nước sở tại. Mỗi loại hình DNFDI kể trên luôn có sự đấu tranh, mâu thuẫn lẫn nhau giữa nước sở tại và với chủ FDI. Nhìn chung, các chủ FDI đều thích tự do, vì vậy, khi xin phép đầu tư, họ thường cố gắng thương thuyết để được thành lập DNFDI dạng thứ nhất.
Còn nước sở tại thì thường muốn FDI tồn tại dưới dạng thứ hai và ba, vì lợi ích quốc gia về nhiều mặt, cả kinh tế lẫn văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ, trật tự trị an,. Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại đối với sự phát triển KT-XH 9 Luan van FDI góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách Nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, sự tồn tại và hoạt động của các DNFDI là yếu tố tích cực để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh môi trường sản xuất kinh doanh, từ đó buộc các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ; cải tiến công tác quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. FDI giúp cho nước tiếp nhận đầu tư tháo gỡ những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý - kinh doanh quốc tế, hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng - mềm, các thủ tục hải quan, thủ tục thuế, cải cách hành chính mà nhất là thủ tục hành chính,… Xét về tổng thể, các DNFDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho ngân sách Nhà nước.