Chương 1). Như vậy, có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức của nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại tại nước tiếp nhận đầu tư. Bản chất của hoạt động này là thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư dưới hình thức vốn sản xuất (di chuyển vốn Luan van 10 quốc tế), đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, kiểm soát, tổ chức sản xuất, phát huy tối đa ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý. của mình ở nước tiếp nhận đầu tư, nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI chủ yếu là hình thức đầu tư tư nhân nước ngoài, cho phép nhà đầu tư can thiệp trực tiếp vào quá trình sử dụng vốn, từ đó phát huy các lợi thế của mình để thu được hiệu quả đầu tư cao hơn so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác. Với FDI, nhà đầu tư cũng đối mặt với việc gánh chịu nhiều rủi ro hơn so với hình thức đầu tư khác. FDI bên cạnh việc bổ sung một lượng vốn quan trọng cho nền kinh tế, thường tạo ra tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến hoạt động của nền kinh tế các nước nhận đầu tư. Thông qua quá trình chuyển giao, lan tỏa công nghệ gắn liền với các doanh nghiệp FDI, các nước đang phát triển có điều kiện để nâng cấp trình độ công nghệ chung, tiếp thu các tri thức và phương pháp quản lý kinh tế hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc đào tạo tại chỗ, mở rộng thị trường quốc tế, tham gia sâu vào quá trình phân công lao động quốc tế.
Vì thế, trong bối cảnh hiện nay, FDI được xem là lực đẩy quan trọng với các nước đang phát triển trong việc tăng trưởng kinh tế, gia tăng giá trị xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm cho người lao động và năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế được tăng cường. Điều này phụ thuộc vào chính sách và năng lực hấp thụ FDI của nước nhận đầu tư, nếu yếu kém, hoạt động FDI có thể tạo ra những hiệu ứng tiêu cực cho nền kinh tế (tài nguyên bị khai thác quá mức, môi trường bị ảnh hưởng, nhập khẩu công nghệ lạc hậu, tính lan tỏa công nghệ mới thấp, việc làm tạo ra không cao, phụ thuộc vào nước ngoài. FDI ít tạo ra những ràng buộc về chính trị và gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả cổ tức (nếu có) được phân chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định.
Tuy nhiên, một thực tế phổ biến hiện nay là các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm cách làm thay đổi kết quả kinh doanh theo hướng mục tiêu của mình, gây ra những méo mó kinh tế đến các nước nhận đầu tư. Luan van 11 FDI có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền kiểm soát các nguồn vốn đã được đầu tư tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn. FDI ngày càng gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các tập đoàn đa quốc gia (MNC) và chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp (luật pháp của nước đầu tư, nước tiếp nhận đầu tư và luật pháp quốc tế). Hoạt động của các doanh nghiệp FDI gắn chặt với mục tiêu mở rộng, chiếm lĩnh thị trường của các MNC và thu về lợi ích tối đa cho nhà đầu tư.
FDI gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế, có liên quan mật thiết với dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong đó một công ty có trụ sở ở một nước nhưng có nhiều chi nhánh ở nhiều nước khác. Điều này gây ra những khó khăn nhất định cho các cơ quan quản lý tại các nước nhận đầu tư, do đó, chỉ có thể hiện thực hoá những hiệu ứng tích cực từ nguồn vốn FDI trên cơ sở thừa nhận và tính đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư trong các chính sách cụ thể của mình. Các loại hình doanh nghiệp FDI FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động, hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau. Các loại hình phổ biến hiện nay của doanh nghiệp FDI cụ thể như sau: Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do các chủ thể nước ngoài cùng hợp tác với chủ thể nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn cùng kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro chia sẻ theo tỷ lệ góp vốn.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân, hoạt động theo luật pháp của nước nhận đầu tư. Đây là loại hình mà các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư thường đưa vào các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại để chiếm ưu thế về sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận. Để đạt được lợi ích kỳ vọng trong hình thức này, nước tiếp nhận đầu tư cần có khả năng góp vốn đồng thời các nhà quản lý doanh nghiệp cần có đủ trình độ, năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến của nước đầu tư. Luan van 12 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, chịu sự kiểm soát theo luật pháp của nước nhận đầu tư.
Hình thức này thường được các chủ đầu tư lựa chọn bởi sự toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra. Một số dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn đầu tư nước ngoài: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Building Operate Transfer - BOT): Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định. Nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư khi hết thời hạn quy định. Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Building Transfer Operate - BTO): Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.
Nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước sau khi xây dựng xong và được quyền khai thác kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Building Transfer - BT): Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư sau khi xây dựng xong. Nước nhận đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài đó thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận. Một số vấn đề về chuyển giá trong doanh nghiệp FDI 1.
Khái niệm chuyển giá Thuật ngữ "chuyển giá" (transfer pricing) bản thân trong ngữ cảnh kinh doanh chỉ có nghĩa là "giá chuyển nhượng trong giao dịch giữa các bên có liên kết". Tuy nhiên, khi nói về khái niệm chuyển giá trong thuế, thuật ngữ này hàm ý là giá giao dịch trong nội bộ tập đoàn đã được cố ý điều chỉnh để tối ưu hóa thuế suất thực cho cả tập đoàn. Hình thức phổ biến nhất trong các kỹ thuật "chuyển lợi nhuận" là "hành động thao túng chi phí và thu nhập trong nội bộ công ty đa quốc gia tại các nước có Luan van 13 mức thuế khác nhau để báo lãi tại nơi sẽ bị đánh thuế thấp nhất", do đó hai từ "chuyển giá" và "chuyển lợi nhuận" thường được coi là một trong các thảo luận học thuật và pháp lý về vấn đề này trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo Garry Stone (2012), "Chuyển giá là một hành vi thông đồng có chủ ý giữa các công ty trong cùng tập đoàn để thỏa thuận giá cả không dựa trên giá thị trường, nhằm chuyển lợi nhuận từ công ty này sang công ty khác ở các nước khác nhau nhằm tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả tập đoàn.
Cơ sở thiết lập giá giao dịch như vậy xuất phát từ quyền tự do kinh doanh. Theo đó, các doanh nghiệp liên kết có quyền quyết định giá giao dịch mà họ cho là phù hợp". (2007), "Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua bán sản phẩm, nguyên vật liệu. giữa các công ty trong cùng một tập đoàn, không theo giá thị trường nhằm thu được lợi nhuận cao nhất".
Theo OECD (2010), "Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với sản phẩm (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, dịch vụ, lãi tiền vay) được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường, nhằm tối thiểu hoá tổng số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết trên toàn cầu". Vấn đề "Chống chuyển giá" lần đầu tiên được đề cập chính thức ở Việt Nam tại Thông tư 74-TC/TCT của Bộ Tài chính ngày 20/10/1997, từ đó, vấn đề định giá chuyển giao và hành vi chuyển giá mới nhận được sự chú ý nhiều hơn của các nhà nghiên cứu trong nước.TS Nguyễn Trọng Cơ (2012), "Chuyển giá được hiểu là một hoạt động được sắp đặt trước bởi các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ liên kết nhằm làm thay đổi mức giá trong quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, tài sản (hoặc bất kỳ đối tượng nào của giao dịch) có sự khác biệt so với giá thị trường. Mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của cả một nhóm có quan hệ liên kết kinh tế (tập đoàn, công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có mối quan hệ liên kết) trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ về thuế". Luan van 14 Theo PGS.