CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ CHỨNG TỪ CHUYỂN GIÁ 1. Khái niệm và bản chất của chuyển giá 1. Khái niệm: Theo Tổ chức OECD trong hướng dẫn về việc xác định giá chuyển giao: “Giá chuyển giao là giá áp dụng cho mục đích ghi sổ, dùng để định giá giao dịch giữa các công ty thành viên, được thống nhất quản lý với mức giá ảo cao hay thấp nhằm tác động vào các khoản phải trả cho thu nhập hoặc chuyển vốn giữa các công ty thành viên này”. Theo Wrappe, Steven C., Ken Milani, và Julie Joy, giá chuyển giao là “giá mà tại đó doanh nghiệp chuyển giao hàng hóa, tài sản vô hình hoặc cung cấp dịch vụ cho một bên liên kết như công ty mẹ hay một công ty con”.
Theo Marshall, Jeffrey, và Ellen M. Heffes, “Giá chuyển giao đề cập đến giá mà ở đó giao dịch giữa các đơn vị của những công ty đa quốc gia được thực hiện, bao gồm việc chuyển giao nội bộ về hàng hóa, bất động sản, dịch vụ, các khoản vay và thuế”. Tóm lại, chuyển giá (transfer pricing) hay thuật ngữ khoa học là “giá chuyển giao” là việc các doanh nghiệp thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, tài sản và dịch vụ chuyển giao nội bộ qua biên giới giữa các công ty cùng tập đoàn. Mức giá này được xác định sao cho tối đa hóa lợi ích của tập đoàn thông qua việc tận dụng những khác biệt về thuế suất, các quy định về quản lý xuất nhập khẩu và đầu tư ở các quốc gia.
Trong vài thập niên gần đây, nhiều quốc gia cũng đã xác lập nhiều quy định nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá này. Hầu hết các quốc gia đều đặt ra “nguyên tắc giá thị trường” cho việc định giá chuyển giao. Nguyên tắc giá thị trường (The arm’s length principle – ALP) Trong nhiều năm, phương pháp ALP được dùng tiêu biểu trong các điều ước thuế song phương và đa phương như là một tiêu chuẩn được chấp nhận trên thế giới để xác định lợi nhuận chịu thuế của một tập đoàn đa quốc gia. Hiện nay, phương pháp ALP được sử dụng hầu như ở tất cả các quốc gia.
Phương pháp ALP yêu cầu các bên liên kết của một tập đoàn đa quốc gia thiết lập các mức giá cho các giao dịch nội bộ của chính họ như là trong trường hợp giao dịch với bên ngoài, có nghĩa là thực hiện như các đơn vị độc lập trong cùng tình huống tương tự. Theo như luật chuyển giá và các nguyên tắc của nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Trung Quốc, Brazil và Việt Nam, cơ quan thuế được phép hiệu chỉnh lợi nhuận của các bên liên kết nếu như các giao dịch có kiểm soát không thỏa sự kiểm tra khách quan về giá (arm’s length test). Từ đó, vấn đề làm thế nào để xác định danh nghĩa (chủ thể) của các bên liên kết đã trở nên quan trọng và nó được xem như một nhân tố pháp lý sống còn cho việc áp dụng các luật lệ và nguyên tắc chuyển giá. Khái niệm về các bên liên kết được nêu trong điều 9.1 của Công ước về mô hình thuế (Model Tax Convention – MTC) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development – OECD).
Điều này cũng xác nhận quyền của các quốc gia ký kết được điều chỉnh mức thu nhập của một bên liên kết nếu như nó không thỏa giá thị trường (not at arm’s length). Công ước tiêu chuẩn về thuế của OECD và các hiệp ước thuế chỉ xác nhận quyền của các quốc gia ký kết trong việc điều chỉnh thu nhập của các bên liên kết, điều chỉnh thu nhập của các bộ phận của cùng một doan nghiệp. Các hiệp ước về thuế để lại cho các quốc gia ký kết việc thiết lập và áp dụng luật của chính quốc gia đó trong việc áp dụng nguyên tắc giá thị trường (ALP). Kết quả là, các quy định hữu hiệu trong việc 123doc 16 khai triển và áp dụng ALP chính là các luật thuế của các đối tác trong hiệp ước thuế.
Để cung cấp chỉ dẫn cho việc diễn giải và áp dụng ALP, các quốc gia thành viên OECD phát hành “Báo cáo về chuyển giá và các công ty đa quốc gia” năm 1979 và “Chỉ dẫn về chuyển giá cho các tập đoàn đa quốc gia và Cơ quan thuế” (chỉ dẫn của OECD) năm 1995. Những báo cáo và chỉ dẫn này đưa ra các khuyến cáo và được dùng như các các chỉ dẫn được quốc tế công nhận cho việc áp dụng ALP. Mặc dù báo cáo và chỉ dẫn của OECD năm 1979 đã đạt được một mức độ hài hòa trên một số khía cạnh như là phương pháp chuyển giá, việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp và phạm vi đối chiếu, và các yêu cầu về tài liệu,… nhưng các nguyên tắc chuyển giá ở địa phương trong việc áp dụng ALP không giống nhau giữa các quốc gia thành viên OECD và các quốc gia khác. Người ta thấy rằng mặc dù các luật chuyển giá tại địa phương được phát triển đáng kể dựa trên các chỉ dẫn của OECD, nhưng mỗi nước đều có một cách tiếp cận riêng đối với ALP dựa trên các luật địa phương của nó.
Không có một tiêu chuẩn liên kết quốc tế chính thức nào trong việc mô tả và áp dụng ALP. Hơn nữa vì sự chênh lệch về mức độ hiểu biết, kinh nghiệm và chuyên môn của nhân viên thuế cũng như mức độ mở cửa của thị trường nên việc thực thi ALP của ngành thuế có thể có sự khác biệt giữa các quốc gia. Bên cạnh việc thiếu sự đồng nhất trong các quy định địa phương hiện hành về chuyển giá, các phương pháp tiếp cận khác nhau đối với việc thực thi các quy định về chuyển giá có lẽ bắt nguồn từ thực tế rằng tất cả các quốc gia đều muốn bảo vệ lượng thuế có được từ các hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia trong địa hạt của họ. Các cơ quan thuế thường lấy bối cảnh địa phương để đánh giá xem liệu các chuyển giá của một giao dịch có kiểm soát có nằm trong giá thị trường hay không.
Các cơ quan thuế ở các quốc gia khác nhau sẽ có thể khác nhau về ý kiến trong việc lựa chọn phương 123doc 17 pháp và kết quả của việc áp dụng đối với cùng một giao dịch xuyên biên giới. Kết quả là phương pháp được chọn và kết quả của việc áp dụng nó phù hợp với luật lệ của một quốc gia này có thể không được chấp nhận bởi cơ quan thuế của quốc gia khác có liên quan. Tương tự như vậy, các tài liệu về chuyển giá được chuẩn bị và đệ trình bởi một thành viên của một tập đoàn đa quốc gia theo luật lệ của một nước và phù hợp với chính sách định giá toàn cầu của công ty đa quốc gia đó có thể không được chấp nhận bởi cơ quan thuế của một quốc gia khác. Một trong những khía cạnh trọng tâm của việc áp dụng ALP là tìm kiếm các thị trường mở của các tổ chức độc lập để thực hiện những cách thức tốt nhất trong thực tiễn giúp cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn trong ngành (benchmarking).
Việc tồn tại hiệu quả kinh tế của việc liên kết kinh doanh, các giao dịch duy nhất và các giao dịch liên quan đến các yếu tố vô hình giữa các bên liên kết nhìn chung dẫn đến việc thiếu các yếu tố so sánh đáng tin cậy trong thị trường mở. Trong những tình huống như vậy, rất khó khăn và thậm chí là không thể tìm kiếm các yếu tố so sánh đáng tin cậy trong việc kiểm tra xem liệu các chuyển giá của các giao dịch có kiểm soát có nằm trong giá thị trường hay không. Với tác động pháp lý của quy định “phương pháp tính thuế tốt nhất” theo như các quy định về chuyển giá của một số nước, các thành viên của một tập đoàn đa quốc gia hoạt động trong những nước này cần phải kiểm tra khả năng áp dụng được của tất cả phương pháp chuyển giá được xác định trong luật và trong các so sánh hiện hữu để thiết lập kết quả so sánh khách quan phù hợp nhất. Bên cạnh việc tuân thủ quy định phương pháp tính thuế tốt nhất ở một quốc gia, các thành viên khác của tập đoàn đa quốc gia cũng cần phải tuân thủ các quy định về chuyển giá khác của các quốc gia tương ứng khác (không chấp nhận phương pháp so sánh lợi nhuận (CPM) hoặc không chấp 123doc 18 nhận điều kiện cho việc áp dụng các phương pháp cuối cùng).
Để tránh các trừng phạt và điều chỉnh đối với thu nhập, tập đoàn đa quốc gia cũng cần phải tuân theo tất cả các yêu cầu về tài liệu chuyển giá khác ở các địa hạt thuế khác nhau nơi mà các hoạt động kinh doanh của nó đang diễn ra. Bên cạnh một số khó khăn thực tế trong việc ứng dụng ALP, còn có các khó khăn về mặt lý thuyết bắt nguồn từ việc áp dụng ALP cho việc xác định lợi nhuận của một tập đoàn đa quốc gia. Một số các nghiên cứu như của Stanley I. Langbein và tờ báo Treasury White Paper của Hoa Kỳ năm 1988 gợi ý rằng khả năng sinh lợi tổng thể của các thành viên trong một tập đoàn đa quốc gia lớn hơn tổng các báo cáo kinh doanh của từng thành viên riêng lẻ, giả định rằng các thành viên trên của tập đoàn đa quốc gia là các phần tử không liên quan đến nhau.
Trên quan điểm này, do việc áp dụng phương pháp so sánh ALP một phía như: giá bán lẻ, chi phí phụ trội, lợi nhuận ròng từ giao dịch và lợi nhuận so sánh, nên ALP không thể xác định một cách hữu hiệu và đúng đắn đối với lợi nhuận gia tăng (tức hiệu quả kinh tế của việc kết hợp) của một tập đoàn đa quốc gia giữa các địa hạt khác nhau có liên quan. Phương pháp một phía dựa trên những sự so sánh của các đơn vị độc lập. Kết quả dẫn đến lợi nhuận gia tăng của tập đoàn đa quốc gia có thể đổ dồn vào một địa hạt khác với địa hạt đang có thành viên của tập đoàn đa quốc gia được kiểm tra. Nghiên cứu các quy định về chứng từ của chuyển giá 1.
Quy định về chứng từ chuyển giá của OECD Tài liệu hướng dẫn của OECD cung cấp các hướng dẫn chung cho cơ quan thuế để có thể xem xét khi thiết lập các luật lệ và thủ tục đối với tài liệu chuyển giá trong các giao dịch nội bộ của các tập đoàn đa quốc gia.