CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ 1.1 Khái quát về chuyển giá 1.1 Khái niệm về chuyển giá Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một doanh nghiệp riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết. Để lợi ích tổng thể đạt tối ưu, các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ chuyển giá, vì nó giúp họ làm giảm tổng nghĩa vụ thuế ở các quốc gia có mức thuế suất khác nhau, để từ đó làm tăng lợi nhuận sau thuế. Chuyển giá đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định tài chính của doanh nghiệp, nó có khả năng điều chỉnh lợi nhuận, tạo luồng chảy của vốn đầu tư, tăng khả năng thanh toán.Vì vậy, chuyển giá là công cụ hữu ích của doanh nghiệp để tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường, tiết kiệm chi phí thuế, kiểm soát lưu chuyển tiền tệ và phân bổ các nguồn lực. Vậy chuyển giá là gì, các doanh nghiệp vận hành chính sách chuyển giá như thế nào để đạt mục tiêu tối thiểu hóa số thuế phải nộp, chính là vấn đề được làm rõ trong chương này.
Để hiểu rõ về chuyển giá, chúng tôi dẫn chứng một số ví dụ sau: Ví dụ 1: Sơ đồ giao dịch sau 123doc 8 VIỆT NAM NƯỚC B Công ty phí 1 SP:150 con Y Chi phí 1 SP:200 Chi phí 1SP: 100 Công ty mẹ 2 Các bên Các độc lập X 100 công ty độc lập Chi phí 1 SP: 170 Công ty Chi phí 1 SP: 200 độc lập A Phân tích kế hoạch tránh thuế: Giả định không tính chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Giao dịch X--> Y (GD1) Tổng hợp kết quả công ty Công ty X Công ty Y X và Y Doanh Doanh thu 150 Doanh thu 200 200 thu Chi phí 100 Chi phí 150 Chi phí 100 Lợi Lợi nhuận 50 Lợi nhuận 50 100 nhuận Thuế Thuế TNDN Thuế 12,5 TNDN 5 17,5 (25%) TNDN (10%) Lợi nhuận sau 37,5 Lợi nhuận 45 Lợi 82,5 123doc 9 thuế sau thuế nhuận sau thuế 3 Giao dịch X --> A (GD2) Tổng hợp kết quả công ty X Công ty X Công ty A và A Doanh thu 170 Doanh thu 200 Doanh thu 200 Chi phí 100 Chi phí 170 Chi phí 100 Lợi nhuận 70 Lợi nhuận 30 Lợi nhuận 100 Thuế TNDN Thuế TNDN 17,5 3 Thuế TNDN 20,5 (25%) (10%) Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau 52,5 27 79,5 thuế thuế thuế Công ty X và Công ty Y có mối quan hệ liên kết với nhau nên GD1 là giao dịch liên kết. Việc định giá trong GD1 (150) thấp hơn giá thị trường (170) thì nghĩa vụ thuế tổng hợp của X và Y sẽ giảm đi là: 20,5 – 17,5 = 3, dẫn tới số thuế TNDN nộp tại Việt Nam giảm đi: 17,5 – 12,5 = 5, đồng thời số thuế TNDN tại nước B tăng lên 5 – 3 = 2.2 Đặc điểm của chuyển giá a) Chuyển giá gắn liền với các giao dịch giữa các bên có mối quan hệ liên kết Do chuyển giá là thủ thuật hướng đến việc tăng lợi ích cho các chủ sở hữu bằng cách thay đổi các giá trị giao dịch, nên nếu không có quan hệ liên kết thì các bên giao dịch khó có thể chấp nhận giao dịch diễn ra trong tương quan không bình đẳng, vì một trong hai bên sẽ chịu bất lợi. Do đó, giao dịch chuyển giá phải thực hiện trong nội bộ nhóm liên kết – có cùng lợi ích để đảm bảo rằng lợi ích không dịch chuyển khỏi tầm kiểm soát của chủ sở hữu mà chỉ dịch chuyển từ “túi đựng tiền này” sang “túi đựng tiền 123doc 10 khác”. Chuyển giá vì thế gắn liền với yếu tố liên kết.
Không có quan hệ liên kết được xác lập cũng có nghĩa rằng chuyển giá đã được loại trừ. b) Chuyển giá có thể không phản ánh giá trị thực của giao dịch Hoạt động chuyển giá được phản ánh trên chứng từ kế toán ghi nhận các thông số về sự chuyển dịch giá trị đầu vào, đầu ra không đúng thực chất của giá trị giao dịch. Các giá trị được chuyển giao chủ yếu thông qua giá, các bên nâng hoặc giảm giá so với giá thực tế nhằm điều chỉnh lợi nhuận với mục đích giảm số thuế phải nộp nói chung giữa các bên. Điều đó có nghĩa rằng giá xác định trong trường hợp này chỉ mang tính hình thức mà không phản ánh giá trị thực sự của giao dịch.
Trong đó, cái được chuyển đi hay giữ lại không thể hiện trên con số được phản ánh. Thông thường, các số liệu thể hiện trong hệ thống sổ sách, chứng từ chính là cơ sở phản ánh thực chất của giao dịch. Tuy nhiên, trong trường hợp giao dịch được thực hiện giữa các các bên liên kết thì không hoàn toàn như vậy. Vì vậy, điều chỉnh chuyển giá phải căn cứ chủ yếu vào việc lưu trữ các dữ liệu về giao dịch giữa các bên liên kết và các giao dịch tương tự giữa các bên độc lập.
c) Chuyển giá có thể diễn ra trong các giao dịch liên kết xuyên biên giới hoặc trong phạm vi một quốc gia Xuất phát từ bản chất và mục đích của chuyển giá là sử dụng sự bất cân xứng trong nghĩa vụ thuế giữa các quốc gia, địa phương để tối thiểu hóa số thuế phải nộp và_ _tối đa hóa lợi nhuận sau thuế. Điều kiện để phát sinh hành vi chuyển giá là sự không ngang bằng về nghĩa vụ thuế thu nhập ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, cho dù trong phạm vi một quốc gia nhưng có sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế TNDN giữa các địa phương thì có thể phát sinh hiện tượng chuyển giá. Để chống chuyển giá, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia, địa phương trong việc cung cấp các thông tin về giá làm căn cứ điều chỉnh phù hợp.
123doc 11 d) Không làm tăng tổng lợi nhuận trước thuế của toàn tập đoàn mà chỉ là sự chuyển dịch chúng từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác trong phạm vi tập đoàn. Như vậy, tổng lợi ích được hình thành vẫn thuộc sở hữu công ty mẹ, nhưng với từng cá thể riêng lẻ hợp thành thì phần lợi ích do họ được quản lý và nắm giữ có thể thay đổi. Điều này có nghĩa là thông qua chuyển giá công ty mẹ chỉ phải chia sẻ ít hơn lợi ích của mình làm ra cho chủ thể khác như nhà nước hoặc đối tác trong liên doanh, liên kết, cổ đông hay với người lao động… kiểm soát chuyển giá có nhiệm vụ khôi phục lại tình trạng bình thường cho các giá trị chuyển giao phù hợp với quan hệ thị trường. Tóm lại, chuyển giá xuất hiện như một tất yếu khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa đầu tư và thương mại, nhưng nghĩa vụ thuế còn khác biệt do chủ quyền đánh thuế của các quốc gia còn riêng lẻ.
Những phương thức làm gia tăng lợi ích luôn luôn phát triển như một động lực phát triển xã hội. Trong đó, chuyển giá hình thành để các tập đoàn kinh tế toàn cầu gia tăng lợi ích do quá trình hội nhập kinh tế mang lại, bằng cách tìm kiếm những điểm đầu tư khác nhau, xác lập các công ty con khác nhau nhưng từ một nguồn sở hữu để tạo ra những lợi ích khổng lồ hơn từ quá trình tạo lập những cấu thành này.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các chính sách pháp luật liên quan đến chuyển giá Quy định kiểm soát chuyển giá ra đời như là một nhu cầu khách quan trước hiện tượng chuyển giá nảy sinh trong đời sống xã hội. Chuyển giá diễn ra trong nội bộ nên sự sai lệch về giá ở đây gây ra sự khác biệt trước hết trong nội bộ của những tổ hợp lợi ích này. Chuyển giá không gây ra những ảnh hưởng trực tiếp nào ngoài thị trường mà nó ẩn dưới sự phù phép của những con số tạo ra những ảnh hưởng mang tính gián tiếp đến những quan hệ liên quan.
Chuyển giá đã xuất hiện từ rất sớm trong hệ thống thuế từ thập niên 30 của thế kỷ XX. Cả Hoa Kỳ và tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế 123doc 12 OECD đã có những hướng dẫn về chuyển giá từ trước năm 1979. Hoa Kỳ là nước đi đầu trong việc xây dựng hướng dẫn về chuyển giá với sách trắng được ban hành năm 1988, một dự thảo chuyển giá ban hành vào năm 1990-1992 và cuối cùng một quy định về chuyển giá được thông qua năm 1994. Năm 1995, OECD đã ban hành dự thảo về chuyển giá đầu tiên.
Năm 1996, OECD đã ban hành dự thảo sửa đổi, bổ sung về chuyển giá. 2 bộ hướng dẫn của Hoa Kỳ và OECD có những nguyên tắc tương tự nhau và được áp dụng ở nhiều nước. Hướng dẫn của OECD chính thức được thông qua ở nhiều quốc gia thuộc liên minh Châu Âu và có rất ít sửa đổi. Các hướng dẫn về chuyển giá của Hoa Kỳ và OECD đưa ra các hướng dẫn về giá chuyển giao trong các giao dịch liên kết được điều chỉnh cho phù hợp với nguyên tắc giá thị trường.
Mỗi hệ thống hướng dẫn chuyển giá của Hoa Kỳ và OECD cung cấp một số phương pháp điều chỉnh giá chuyển giao cho phù hợp với giá thị trường. Cả 2 hệ thống đều đưa ra các tiêu chuẩn để so sánh với các giao dịch độc lập và các biện pháp khác để điều chỉnh giá chuyển giao trên cơ sở so sánh và độ tin cậy chuẩn. Ở Việt Nam quy định về kiểm soát chuyển giá lần đầu được quy định trong Điều 9 của Luật thuế TNDN năm 1996. Điều này qui định giá trị góp vốn mỗi bên liên doanh phải được xác định theo giá thị trường của thời điểm góp vốn.
Tuy nhiên, không hướng dẫn việc áp dụng giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên kết được quy định cho luật này. Lần đầu tiên Việt Nam hướng dẫn việc áp dụng quy định kiểm soát chuyển giá thông qua áp dụng giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên kết cho mục đích tính thuế tại Thông tư số 74TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ thuế đối với các hình thức đầu tư nước ngoài. Thông tư 74TC/TCT chứa đựng quy định chung về “biện pháp chống chuyển giá” nhằm mục đích quy định giá chuyển nhượng của giao dịch liên kết giữa các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các bên có quan hệ.