Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Trong chƣơng này, tác giả trình bày tổng 9 quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc từ đó phát hiện các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất các hƣớng nghiên cứu trong luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trong chƣơng này, tác giả trình bày các vấn đề lý luận liên quan đến GTHL, nhận thức áp dụng, khả năng áp dụng GTHL trong kế toán và trình bày các lý thuyết nền có liên quan cũng nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng GTHL trong công tác kế toán.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trong chƣơng này, tác giả trình bày khung nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu cũng nhƣ đề xuất mô hình nghiên cứu, các phƣơng pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong quá trình thu thập, xử lý và phân tích các dữ liệu nhằm xây dựng đƣợc phiếu khảo sát chính thức. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chƣơng này, tác giả trình bày tổng quan về các DNXL tại TPHCM, kết quả nghiên cứu định tính, định lƣợng chính thức dựa trên số liệu khảo sát và bàn luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và Hàm ý. Trong chƣơng này, tác giả luận án dựa trên kết quả nghiên cứu để đƣa ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, đồng thời đƣa ra hàm ý thành hàm ý lý thuyết và hàm ý chính sách, quản trị. Cuối cùng là kết luận về vai trò, sự cần thiết áp dụng và khả năng áp dụng GTHL trong kế toán tại các DNXL. 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Để có cái nhìn tổng quan, trong chương này tác giả sẽ tổng quan các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến thuật ngữ GTHL cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức GTHL và khả năng áp dụng GTHL trong DN.
Từ đó tác giả đưa ra nhận xét, rút ra những khoảng trống trong nghiên cứu cho Luận án của mình và đưa ra những định hướng cho những nghiên cứu kế tiếp sau này.1 Tổng quan các nghiên cứu nƣớc ngoài về việc áp dụng GTHL trong kế toán Đã có nhiều nghiên cứu về các ứng dụng của GTHL, nghiên cứu này tập trung lƣợc khảo các nghiên cứu trƣớc trên thế giới để xem xét ảnh hƣởng của GTHL đến nhận thức nhƣ thế nào khi nó đƣợc áp dụng. NCS thực hiện phân theo dòng nghiên cứu đó là: Nghiên cứu về giá trị hợp lý và Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến nhận thức, khả năng áp dụng giá trị hợp lý: 1.1 Tổng quan các nghiên cứu theo GTHL Nghiên cứu của Page (1984) trên BCTC của các DN cho rằng, BCTC đƣợc kiểm toán bởi BIG 4 sẽ có ảnh hƣởng lớn vì là nhóm 4 công ty kiểm toán hàng đầu bao gồm: Price Waterhouse - Cooper, Earnst & Young, Deloite & Touche và KPMG. Nghiên cứu chỉ ra rằng, những tổ chức của chính phủ có những ảnh hƣởng nhất định đến DN trong việc thực hiện các yêu cầu đo lƣờng và công bố thông tin kế toán. Nghiên cứu của Magee và Tseng (1990) cho rằng, kiểm toán giữ vai trò quan trọng đối với chất lƣợng BCTC, là nền tảng cho sự công khai minh bạch về tình hình tài chính của DN.
Chất lƣợng BCTC đã đƣợc kiểm toán là một thành phần của chất lƣợng kiểm toán (CLKT), vì vậy, mối liên hệ giữa CLKT và chất lƣợng BCTC là chặt chẽ, khi CLKT đƣợc xem là một sự đảm bảo cao hơn tính trung thực và hợp lý của BCTC thì đo lƣờng chất lƣợng BCTC là phƣơng pháp thích hợp để đo lƣờng CLKT. Quan điểm này dựa trên thực tế BCTC là sản phẩm chung của nhà quản lý và KiTV. Nghiên cứu của Al-Baskeki (1995) cho rằng DN kiểm toán có mức ảnh hƣởng lớn đến quyết định của DN trong lựa chọn áp dụng CMKT. Nếu một DN đƣợc kiểm toán bởi một trong các hãng kiểm toán lớn (BIG 4) thì chứng tỏ doanh nghiệp đó quan tâm nhiều hơn đến việc áp dụng các CMKT quốc tế trong việc ghi 11 nhận, đo lƣờng và trình bày.
Sự lựa chọn các dịch vụ kiểm toán bởi các công ty nổi tiếng (Big 4) cho phép DN có điều kiện tiếp nhận các khoản đầu tƣ vốn quốc tế rộng hơn và gây dựng uy tín trên thƣơng trƣờng. Cùng thời điểm này, thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thuế và kế toán thông qua tác động của pháp luật về thuế trong DN có nghiên cứu của Doupnik và Salter (1995). Các tác giả cho rằng nó là một yếu tố có ảnh hƣởng đáng kể đến sự phát triển của hệ thống kế toán và BCTC, điều này có thể làm cho nhà đầu tƣ có thái độ thiếu dứt khoát khi sử dụng thông tin trên BCTC. Kết quả nghiên cứu cho thấy là giữa thuế và kế toán vẫn luôn tồn tại khoảng cách nhất định, do mâu thuẫn về hai quan điểm khác nhau.
Nghiên cứu của Collis và Jarvis (2000) khi cho rằng nhận thức chủ DN liên quan đến lợi ích của BCTC, theo các tác giả thì ngƣời chủ DN thƣờng quan tâm đến việc kê khai thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nƣớc mà ít quan tâm đến việc tuân thủ quy định kế toán trong việc vận dụng CMKT, vì thế mà chất lƣợng thông tin cung cấp trên BCTC của DN (nhất là các DNNVV) thƣờng kém do việc không tuân thủ nguyên tắc trong chuẩn mực kế toán. Nghiên cứu về thuế và kế toán, có Francis và các cộng sự (2002) chỉ ra rằng các quy tắc thuế chi phối hệ thống châu Âu lục địa, chính sách kế toán có thể bị ảnh hƣởng trong một số lĩnh vực nhất định bởi thuế ở các nƣớc châu Âu lục địa và có một liên kết ràng buộc toàn diện giữa thuế và các quy tắc kế toán. Đồng quan điểm có nghiên cứu của Aisbitt (2002) về mối liên kết giữa thuế và kế toán là biến động và đã có một số thay đổi về mức độ phụ thuộc giữa kế toán và thuế tại các nƣớc châu Âu. Nghiên cứu của Choi và Meek (2011) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế cho rằng, thuế và kế toán ngày càng thay đổi là dần đang theo hƣớng từ phụ thuộc chuyển sang độc lập với nhau.
Chẳng hạn, tại Tây Ban Nha, sau một thời gian dài luật thuế chi phối kế toán thì từ sau cuộc cải cách năm 1989, chúng đã trở nên độc lập với nhau hơn. Tiếp đến, nghiên cứu của Fekete và cộng sự (2012) về kế toán trong các DN nhỏ và vừa (DNNVV) có mối liên hệ với thuế. Mối quan hệ này không phải lúc nào cũng đƣợc công nhận rõ ràng vì các quy tắc kế toán khác biệt với các quy tắc thuế. Nhóm tác giả đã thực hiện một phân tích thực nghiệm trong thời gian 11 năm để tìm kiếm bằng chứng về mối quan hệ thực tế giữa kế toán và thuế.
Kết quả đã thu thập dữ liệu từ khu vực DNNVV của Rumani xác 12 nhận rằng kế toán thực sự bị ảnh hƣởng bởi thuế (ảnh hƣởng thực tế), tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng có sự thay đổi qua các năm đƣợc quan sát. Ngoài ra còn phụ thuộc vào những sửa đổi trong các quy định về thuế và kế toán ở Rumani dƣờng nhƣ góp phần vào việc loại bỏ thuế khỏi kế toán, nhƣng với mức tác động thấp. Nghiên cứu của Duhanxhiu và Kapllani (2012) về việc khám phá mối quan hệ giữa các quy tắc kế toán tài chính và thuế ở Albania cho rằng, kế toán và thuế là hai công cụ nảy sinh hầu hết các vấn đề chung và cụ thể đối với các nền kinh tế chuyển đổi. Kết quả cho thấy, yêu cầu của cơ quan thuế đối với thông tin kế toán tiếp tục chiếm ƣu thế so với những ngƣời tham gia khác nhƣ chủ nợ và NĐT.
Ngoài ra, những ngƣời đƣợc phỏng vấn lo ngại về tính chủ quan của lợi nhuận khi áp dụng GTHL, bởi kinh nghiệm yếu kém của cơ chế giám sát. Những ngƣời đƣợc phỏng vấn bày tỏ quan điểm khác nhau về khả năng liên kết giữa kế toán tài chính và thuế. Nhóm tác giả kết luận, các khía cạnh của kế toán và thuế rất quan trọng và gợi ý rằng mối quan hệ giữa hai bộ quy tắc có thể đƣợc cải thiện bằng cách: 1) hƣớng dẫn rõ ràng về cách tính thuế thu nhập, đơn giản và rõ ràng; 2) cải thiện yêu cầu công khai với kế toán; và 3) liên tục đào tạo nhân sự về kế toán và thuế. Nghiên cứu về sự ủng hộ áp dụng GTHL trong các DN, có nghiên cứu của Richard (2004) đã thực hiện trong các DN ở Pháp và cho thấy, GTHL là phƣơng pháp thống trị để trình bày bảng cân đối kế toán từ thế kỷ 19.
Theo tác giả trong giai đoạn này, kế toán chuyển từ hạch toán nguyên giá sang GTHL, do đó, các DN có thể xác định giá dựa trên lợi nhuận trong tƣơng lai. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố cản trở quá trình xác định GTHL: môi trƣờng, vai trò của các tổ chức chính trị, sự rõ ràng của tiêu chuẩn GTHL, thái độ của các nhà quản lý và trình độ kế toán. Kế đến phải kể đến nghiên cứu của Ting và Soo (2005) nghiên cứu áp dụng GTHL tại các DN ở Malaysia. Kết quả cho thấy việc đo lƣờng GTHL cho phép cung cấp thông tin kế toán phù hợp và đáng tin cậy hơn, đáp ứng các mục tiêu của BTCT và ngƣời sử dụng, đồng thời mở rộng thị trƣờng vốn.
Do đó, việc đo lƣờng GTHL đƣợc sử dụng rộng rãi trong BCTC vì những thông tin này đƣợc coi là phù hợp với các NĐT và chủ nợ hơn là thông tin giá gốc. Tuy nhiên, cũng theo tác giả thì rất khó để xác định độ tin cậy của GTHL, vì nó đòi hỏi những đánh giá và ƣớc tính chủ quan, đặc biệt đối với những giao dịch không đƣợc thực hiện trên thị trƣờng, chi phí định giá thƣờng rất đắt. Để tăng độ tin 13 cậy của GTHL, các DN có thể sử dụng định giá của các chuyên gia hoặc BCTC đã đƣợc kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn uy tín. Từ đó có thể sẽ làm tăng đáng kể chi phí hoạt động cho DN, do đó làm nhiều DN do dự trong việc áp dụng GTHL.
Nghiên cứu này thừa nhận những lợi ích, thông tin hữu ích của GTHL khi đƣợc áp dụng để tiếp cận nhƣ thu hút đầu tƣ, dễ dàng tiếp cận thị trƣờng vốn quốc tế và thông tin đƣợc cập nhật kịp thời hơn.