CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN 1. ĐỊNH GIÁ TRONG KẾ TOÁN 1. Khái niệm định giá trong kế toán Định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố báo cáo tài chính được ghi nhận và trình bày trên Bảng cân đối kế toán và kết quả kinh doanh 1, nói cách khác định giá là xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến doanh nghiệp. Định giá là một công việc quan trọng trong kế toán tài chính.
Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2. Trong hệ thống các phương pháp kế toán, định giá đóng vai trò quan trọng trong việc kết hợp với các phương pháp kế toán khác như tài khoản, ghi sổ kép, tổng hợp và cân đối… để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ của kế toán. Định giá ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính Định giá ảnh hưởng đến tất cả các khoản mục của báo cáo tài chính, từ đó nó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,. ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính.
Các giả thiết, nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến định giá IASB cho rằng mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính nhằm giúp cho những đối tượng sử dụng khác nhau đưa ra quyết định kinh tế. Để đạt được mục đích trên, báo cáo tài chính phải thỏa mãn các đặc điểm chất lượng. Khuôn mẫu lý 1 IASB framework 2 Nguyễn Việt, Võ Văn Nhị và cộng sự, 2006. Nguyên lý kế toán.
Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. 14 thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB framework) đưa ra hai đặc điểm chất lượng cơ bản: thích hợp và trình bày trung thực, bốn đặc điểm chất lượng bổ sung: có thể kiểm chứng, có thể so sánh, kịp thời và có thể hiểu được. Trong đó những đặc điểm chất lượng có ảnh hưởng rõ rệt đến định giá, theo IASB là: Thích hợp (Relevance) Thông tin thích hợp là thông tin có khả năng làm thay đổi quyết định của người sử dụng như một người cung cấp vốn, thông qua việc giúp họ: cung cấp đầu vào cho quá trình dự đoán về những triển vọng trong tương lai và xác nhận hoặc điều chỉnh các đánh giá trước đó. Có thể kiểm chứng (Verifiability) Thông tin có thể kiểm chứng khi các quan sát viên độc lập và có đủ kiến thức có thể nhất trí rằng: thông tin trình bày trung thực về hiện tượng kinh tế muốn trình bày mà không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu hoặc các phương pháp đánh giá/ ghi nhận đã chọn được áp dụng không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu.
Đây cũng chính là lý do khiến cho hệ thống kế toán dựa trên giá gốc được chấp nhận ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, bởi vì giá gốc được cho là ít bị ảnh hưởng chủ quan và khó bị điều chỉnh bới các thủ thuật hơn là các loại giá khác. Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin làm cho yêu cầu có thể kiểm chứng được trở nên dễ dàng, điều này làm xuất hiện nhiều loại giá khác được sử dụng như giá thay thế, giá thị trường, giá trị hợp lý, … Tính kịp thời (Timeliness): nghĩa là thông tin có được cho người ra quyết định trước khi nó mất khả năng ảnh hưởng đến quyết định. Có thể hiểu được (Understandability): liên quan đến việc phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng và súc tích. Người đọc được yêu cầu có kiến thức hợp lý về hoạt động kinh doanh và kinh tế, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có thể hiểu được.
Trong một số ít trường hợp phức tạp, một số ít người đọc có thể cần tư vấn để hiểu được. Các thông tin thích hợp không được loại trừ khỏi báo cáo tài chính chỉ vì chúng quá phức tạp hoặc khó hiểu đối với một số người sử dụng mà không có sự trợ giúp. 15 Có thể so sánh (comparability) Báo cáo tài chính chỉ hữu ích khi có thể so sánh với năm trước, với doanh nghiệp khác. Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp.
Việc thuyết minh là cần thiết để đảm bảo tính so sánh được. Đặc điểm này chính là lý do để thông tin được trình bày theo hình thức tiền tệ. Không những thế, nó còn chi phối đến phương pháp định giá: các phương pháp định giá khác nhau sẽ dẫn đến tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khác nhau. Tóm lại, để báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng, đòi hỏi phải đảm bảo các đặc điểm nêu trên trong định giá kế toán.
Các hệ thống định giá kế toán Kế toán giá gốc (Historical cost accounting) dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập báo cáo tài chính. Đây là hệ thống định giá truyền thống đã phát triển nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra đời. Trong thời kỳ khoa học cơ bản, các cơ sở lý luận của hệ thống này đã được hình thành, và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vai trò chủ yếu trong các thông lệ và chuẩn mực kế toán. Hệ thống này sử dụng giá gốc là chủ yếu và kết hợp với các loại giá khác: giá trị hợp lý, giá trị thuần có thể thực hiện, hiện giá.
Kế toán theo mức giá chung (General price-level accounting) dựa trên chỉ số giá để điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt là lạm phát. Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960-1970 và hiện nay vẫn còn được áp dụng ở một số quốc gia có lạm phát cao. Kế toán giá hiện hành (Current cost accounting) dựa trên giá hiện hành hay còn gọi là giá thay thế (Replacement cost) của tài sản để lập báo cáo tài chính và xác định lợi nhuận. Giá hiện hành đã được đề cập rất sớm trong kế toán nhưng chỉ được trình bày một cách hệ thống với các cơ sở lý luận đầy đủ vào thời kỳ quy chuẩn, song song với việc phê phán giá gốc.
Giá hiện hành cũng ảnh hưởng đến 16 thực tiễn kế toán ở một số quốc gia trong thời kỳ lạm phát cao như một giải pháp thay thế cho kế toán dựa trên mức giá chung. Kế toán giá đầu ra (Exit price accounting) dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kế toán giá đầu ra đặt nền móng cho hướng phát triển kế toán theo thị trường (mart-to-market accounting) sau này 3. Như vậy, theo IASB framework hiện nay có bốn hệ thống định giá kế toán.
Trong mỗi hệ thống kế toán, các loại giá khác nhau được sử dụng kết hợp với nhau để định giá các đối tượng kế toán. Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán Lịch sử phát triển hoạt động kế toán và lý thuyết kế toán đã dẫn đến sự ra đời nhiều loại giá khác nhau, theo hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS- International Financial Reporting Standards) các loại giá được phân thành các loại như sau: 1. Chi phí đầu vào (Cost based) • Giá gốc (Historical cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hay giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm có được tài sản. • Giá hiện hành (Current cost) hay giá trị thay thế (Replacement cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại.
Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc sự ước lượng của nhà quản lý. Giá trị đầu ra (Value based) • Giá trị thuần có thể thực hiện (Net realizable value): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền có thể thu được nếu bán tài sản tại thời điểm hiện tại. Giá trị thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ. Giá trị thuần có thể thực hiện cũng được ước tính từ mức giá thị trường và điều chỉnh theo giá bán ước lượng (tức là giá thị trường cộng thêm lợi nhuận mong muốn).
Những vấn đề cơ bản của Lý thuyết kế toán. Nhà xuất bản Lao Động. 17 • Hiện giá (Present value): là giá trị hiện tại chiết khấu của các khoản tiền thuần nhận được từ việc sử dụng tài sản. • Giá trị hợp lý (Fair value): là giá mà doanh nghiệp có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc phải trả để thanh toán một khoản nợ phải trả trong giao dịch thông thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.
LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN 1. Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý 1. Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý Hệ thống kế toán giá gốc ra đời và phát triển song song với thực tiễn kế toán và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thực tiễn kế toán ngày nay. Tuy nhiên, quá trình phát triển các hoạt động giao dịch và đầu tư đã bộc lộ những hạn chế của giá gốc, nhất là trong những giai đoạn nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của lạm phát.
Bên cạnh đó, các lý thuyết quy chuẩn đã thấy được những vấn đề trong nền tảng lý thuyết của giá gốc trong việc phản ánh lợi nhuận và tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới các góc độ khác nhau, cụ thể: a) Mục đích của kế toán Trong khi những người bảo vệ giá gốc nhấn mạnh đến việc sử dụng giá gốc giúp đánh giá trách nhiệm giải trình, các lập luận phê phán cho rằng để đạt được mục tiêu này không nhất thiết phải phản ánh các giao dịch dựa trên quá khứ (giá gốc).