CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN MỤC TIÊU Sau khi nghiên cứu xong chương này, người học sẽ: - Hiểu được kế toán là gì và các nhìn nhận khác nhau về kế toán; - Hiểu được những thông tin cơ bản mà kế toán cung cấp và vai trò của kế toán; - Biết được đối tượng chung và đối tượng cụ thể của kế toán; - Hiểu được các nguyên tắc kế toán và các yêu cầu của kế toán được thừa nhận; - Biết được môi trường pháp lý trong lĩnh vực kế toán theo quy định của Việt Nam. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN 1. Trên thế giới Sự hình thành và phát triển của kế toán trên thế giới gắn liền với sự hình thành và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội loài người từ thấp lên cao mà khởi điểm là sản xuất hàng hóa. Trong hoạt động sản xuất, bất cứ ở đâu và lúc nào, con người luôn ý thức được mục đích công việc mình làm, cũng hiểu được kết quả và hao phí cho mỗi hoạt động sản xuất cụ thể, luôn tích lũy những kinh nghiệm nhằm rút ra những bài học cho mỗi hoạt động hữu ích này.
Vì vậy, trong mọi hoạt động, con người luôn tìm cách làm những dấu hiệu ghi lại kết quả những hoạt động của mình không kể đó là hoạt động xã hội hay riêng lẻ. Tuy nhiên, quá trình sản xuất càng phát triển thì yêu cầu đối với kế toán ngày càng cao, điều này đã được C. Mác viết: “Kế toán như là phương tiện kiểm soát và tổng kết quá trình sản xuất trên ý niệm càng trở nên cần thiết chừng nào mà quá trình càng có một quy mô xã hội, càng mất dần tính chất thuần túy cá thể. Cho nên kế toán càng cần thiết đối với sản xuất tư bản chủ nghĩa hơn là đối với sản xuất phân tán của thợ thủ công và nông dân, lại càng cần thiết đối với sản xuất công cộng hơn là sản xuất tư bản chủ nghĩa”.
Sản xuất càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất càng cao thì lượng thông tin lưu truyền càng lớn và đòi hỏi tính chính xác của các quyết định càng cao đồng thời khả năng thu nhận thông tin và kiểm tra cũng tăng lên. Do đó, sản xuất càng phát triển thì kế toán cũng phát triển theo, kế toán ở hình thái kinh tế xã hội sau được phát triển hơn hình thái kinh tế xã hội trước. Ở hình thái xã hội công xã nguyên thủy, kế toán được tiến hành bằng các phương thức hết sức giản đơn như: người ta đánh dấu trên các thân cây, buộc nút trên các dây thừng, … để ghi nhận những thông tin cần thiết. Ở hình thái kinh tế -xã hội chiếm hữu nô lệ, nhiệm vụ và ý nghĩa của kế toán cũng thay đổi.
Kế toán trong giai đoạn này được sử dụng trong các trang trại để theo dõi kết quả sử dụng nô lệ, trong các phòng đổi tiền, trong các nhà thờ và trong các lãnh vực tài chính Nhà nước, … để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh toán và buôn bán, … Sổ kế toán đã xuất hiện với phương pháp ghi đơn thay cho cách đánh dấu ở hình thái kinh tế xã hội công xã nguyên thủy. Đến hình thái kinh tế xã hội phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp với quy mô lớn gắn liền với sự ra đời của hai giai cấp địa chủ và nông dân, với sự ra đời của địa tô phong kiến, với chế độ cho vay nặng lãi của địa chủ đối với nông dân,. những quan hệ kinh tế mới này đã tác động đến sự phát triển của kế toán với hệ thống sổ kế toán phong phú hơn và chi tiết hơn để ghi chép, phản ánh các hoạt động sản xuất, giao dịch, trao đổi, buôn bán đa dạng. Khi hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời, với sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và sau đó là công nghiệp đòi hỏi kế toán phải có sự phát triển mới để phản ánh được các mối quan hệ trao đổi, mua bán được mở rộng cũng như các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình vận động của các tư bản cá biệt.
Sự xuất hiện của các đối tượng mới này của kế toán lại là nguồn gốc cho sự ra đời của phương pháp đối ứng tài khoản trong kế toán. Tài liệu lịch sử đã chứng minh phương pháp “ghi sổ kép” đã ra đời cùng với sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp vào giữa thế kỷ thứ XV và được ứng dụng rộng rãi trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa thế kỷ XVI – XVII trở đi. Cũng từ đó, phương pháp kế toán đã được hình thành và ứng dụng rộng rãi gồm một hệ thống hoàn chỉnh: chứng từ, đối ứng tài khoản, tinh giá, tổng hợp và cân đối kế toán. Vào thế kỷ 19, việc nghiên cứu lý thuyết kế toán càng ngày càng rộng mở, có nhiều khuynh hướng không giống nhau ra đời.
Vì vậy cần phải có một văn bản pháp lý thống nhất về kế toán để phục vụ các mục đích của các nhà quản trị. Chính vì vậy các chuẩn mực kế toán bắt đầu ra đời vào khoảng những năm đầu thế kỷ 20. Năm 1925, Nga đã ban hành một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, trong đó thống nhất về tài khoản sử dụng, về nguyên tắc và phương pháp kế toán cho các doanh nghiệp. Theo sau Nga, chuẩn mực kế toán của các nước lần lượt ra đời như: Đức (1937), Mỹ (1939).
Vào thập kỷ 70, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường ở các quốc gia theo xu hướng mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hình thành sự liên kết kinh tế của các quốc gia và các dạng tổ chức kinh tế thế giới, hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế. Nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình thống nhất hóa các chuẩn mực kế toán quốc gia và hình thành Chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở ghi chép kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính ở các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu, giúp cho việc tổng hợp báo cáo, so sánh và hiểu được thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính. Việc này đã dẫn đến sự thành lập của Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC), một liên minh của 9 quốc gia thành viên ban đầu gồm Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh/Bắc Ireland và Hoa Kỳ, đã ban hành Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS – International Accouting Standard) vào năm 1973. 2 Ngày 01/04/2001, Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) mới ra đời thay thế cho IASC, tiếp tục phát triển các Chuẩn mực mới và đặt tên là Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
Theo thời gian, các chuẩn mực kế toán quốc tế được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Chuẩn mực kế toán quốc tế tạo ra ngôn ngữ chung, thể hiện các quy định mang tính phổ biến giữa các quốc gia trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính có khả năng so sánh cao và được công nhận trên quốc tế. Do đó, Chuẩn mực kế toán quốc tế là một điều kiện vô cùng thuận lợi cho các nước trên thế giới, làm nền tảng xây dựng Chuẩn mực kế toán của quốc gia mình. Tại nhiều nước, IFRS đã thay thế toàn bộ Chuẩn mực kế toán quốc gia để tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư toàn cầu.