Chương 1: Cơ sở lí luận và trực trạng của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh lớp 6 thông qua dạy học chủ đề Một số hình phẳng trong thực tiễn. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CO SỞ LÝ LUẬN • VÀ THỤC • TRẠNG • CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cúu 1.
Tự học và kĩ năng tự học 1. Khái niệm tự học • • • Các nhà nghiên cứu trôn thê giới cũng như ở Việt Nam quan tâm và đưa ra rất nhiều các quan điểm riêng về khái niệm tự học. Chẳng hạn như: rp -1 /N • r * Trên thê giới: • Malcom Knowles cho răng tự học là một quá trình mà các cá nhân chủ động trong việc chẩn đoán nhu cầu học tập của họ, chủ động xây dụng mục tiêu học tập và xác định cả nguồn nhân lực, vật lực cần thiết cho việc học tập và đánh giá kêt quả học tập. • Nhà tâm lý học N.ARubakin trong cuôn sách “Tít học như thê nào" có câu: "Hãy mạnh dạn tự đặt ra cho mình câu hỏi rồi tự mình lẩy câu trả lời, đó là phương pháp tự học." Với ông, tự học không chỉ đon giản là câm sách lên đọc đi đọc lại nhiều lần mà đó còn là quá trình bản thân người học đánh giá, nhận xét, so sánh sự khác nhau giữa lý thuyết và thực tế để từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân.
Như vậy, tự học với nhà tâm lý này là một quá trình người học tự tim hiểu, nghiên cứu, so sánh, đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế cuộc sống để biết mối quan hệ giữa các môn khoa học và nghiên cứu vấn đề đang trao đôi. Tại Việt Nam: • Theo cuôn Lí luận dạy học. “Học sinh tự lập kê hoạch, sử dụng nhũng điều kiện, tài liệu sẵn có của gia đình, củng cố, khắc sâu, mở rộng và hoàn thiện kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập được giáo viên phân công và hướng dẫn sơ bộ cách thực hiện.” [4], • Theo cuôn Phương pháp dạy và học đại học: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ 5 xảo, thái độ do người học tự thực hiện trên lóp hoặc ngoài giờ lên lớp, có hoặc không có chương trình sách giáo khoa được chỉ định, tùy theo sở thích về khoa học và nghề nghiệp, theo mức độ nhận thức về nhiệm vụ hoặc trách nhiệm, theo thói quen làm việc cùa cá nhân.” [7] • Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn Tự học như nào cho tốt [10] cho rằng quá trình mỗi cá nhân biến tri thức nhân loại thành vật sờ hữu của bản thân là tổng họp của rất nhiều thao tác động não, tư duy, quan sát, tổng hợp, vận dụng cả trí tuệ và cơ bắp, phẩm chất và tình cảm, quan điểm cá nhân và thế giới quan như trung thực, khách quan, chí tiến thủ, nhẫn nại, say mê khoa học, sẵn sàng vượt qua kỳ thi, biến khó khăn thành thuận lợi,. Với tất cả nhũng định nghĩa về tự học được đưa ra, ta nhận thấy vai trò và trách nhiệm của bản thân người học là vô cùng to lớn.
Các hoạt động trong quá trình tự học giúp hình thành và phát huy kĩ năng, kiến thức và kinh nghiệm của mồi cá nhân một cách hiệu quả. Để đạt được và đạt đến sự hoàn thiện, bản thân mồi học sinh phải tiếp nhận kiến thức từ nhiều nguồn; Tự rèn luyện các kĩ năng; Bồi dưỡng tâm hồn cùa chính mình mọi lúc. Có thể định nghĩa quá trình tự học là quá trình người học từ khách thể giáo dục trở thành chủ thể giáo dục, chiếm lĩnh tri thức một cách tự giác, chữ động, tích cực thông qua việc kết hợp các hoạt động và thao tác trí tuệ (quan sát, tống hợp, so sánh, phân tích, phán đoán, suy luận,. Đe quá trình này diễn ra một cách có hiệu quả, mồi cá nhân cần trang bị ỷ chí, tình cảm, động cơ học tập đúng đắn để vượt qua các khó khăn trong học tập có thể xảy ra, từ đó tích lũy kiến thức và làm phong phú thêm cho kho tàng tri thức của bản thân.
Như vậy, tự học vừa là một trong những biểu hiện cụ thể và đặc trưng nhất cũng vừa là thước đo cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường vì nếu quá trình này thực hiện thành công thì có thể nâng cao chất lượng học tập của học sinh, qua đó cải thiện được chất lượng giáo dục của trường học. Kĩ năng tự học 1. Định nghĩa Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về kĩ năng, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất ở một số điểm: Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện cùa hành động; kĩ năng là sự vận dụng những tri thức, kĩ xảo đã có để thực hiện hành động; kĩ năng có thể rèn luyện để phát triển được. Từ đó, ta có thể định nghĩa kĩ năng đơn giản là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thực hiện một cách có kết quả các hành động hay hoạt động theo mục đích đã đề ra.
Kĩ năng biểu hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành động và mặt kĩ thuật của hành động. Kĩ năng tự học là khả năng của một cá nhân chủ động tìm hiếu và cài thiện bản thân thông qua việc thu thập thông tin, trải nghiệm và áp dụng kiến thức mới vào thực tế. Kĩ năng tự học có thể được phát triền và cải thiện thông qua việc rèn luyện, thực hành và liên tục nâng cao khả năng học tập. Đa số các quan điểm đều cho rằng, kĩ năng tự học có thể chia thành 4 nhóm: nhóm kĩ năng định hướng, nhóm kĩ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kĩ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kĩ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm.
Do đó, muốn rèn luyện kĩ năng tự học toán của học sinh THCS, giáo viên càn tập trung rèn luyện cho học sinh 4 nhóm kĩ năng thành phần. Ta có bảng các thành tố của kĩ năng tự học và các chỉ số hành vi của các thành tố như sau: Bảng 1. Các thành tố của kĩ năng tự học Thành tố Mô tả Chỉ số hành vi 1. Xác định HS xác định được mục đích, nội 1.
Xác định kiến thức, mục • đích dung và cách thức tự học, hình thành kĩ năng cần học. học tập ý thức về nhu cầu học tập, từ đó tự 1. Xác định kiến thức, xây dựng cho mình động cơ học tập kĩ năng liên quan đã có, 7 đúng đắn giúp cho HS tự giác, say đã biết mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, để có thể tự học lâu dài và bền vững. Lập kế HS phải lập được kế hoạch tự học 2.
Xác định phong hoạch tự khoa học, vừa sức và khả thi: các nội cách bản thân học dung cần tự học, khối lượng và yêu 2. Lựa chọn phương cầu cần đạt được, cá hoạt động cần án học tập phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần 2. Lập thời gian biểu tạo ra, thời gian dành cho mồi nội tự• học • dung và hoạt động. Khi lập kế hoạch, cần bao gồm cả các phương án phụ, dự kiến khắc phục các trở ngại đột xuất về thời gian, ngoại cảnh, yêu cầu chung,.Ngoài ra HS cần biết cách lựa chọn hình thức tự học, quyết định cách thức chiếm lình tri thức, kĩ • 7 năng cho mình, phù họp với trình độ tiếp thu, với tài liệu để duy trì động lực tự học như tự học cá nhân, đôi • • • • • 7 bạn học tập, nhóm, học với tài liệu, với bài giảng đa phương tiện,.
Thực HS thề hiện khả năng lựa chọn các 3. Làm việc với tài hiện kế tài liệu thích hợp, sử dụng các liệu hoạch tự phương pháp nhận thức phổ biến 3. Làm việc với người học trong học tập vật lý, vận dụng các hồ trợ• 8 kiến thức đã học vào thực tiễn để giải 3. Rèn luyện trên đối quyết các vấn đề học tập như làm bài tượng vật chất tập vận dụng, bài thực hành, thí nghiệm, báo cáo,.
giúp tri thức có được không dễ quên mà bền vững, thường xuyên được mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân. Đánh giá HS phát triển khả năng đánh giá điều 4. Đánh giá được kết điều chỉnh chỉnh hoạt động học, tự nhận biết quả của bản thân hoạt động mức độ tiếp thu cùa mình và điều 4. Đánh giá, điều học chỉnh phương pháp tự học thích hợp chỉnh được • kế hoạch • như tự trắc nghiệm bằng hệ thống học tập câu hởi trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự luận hoặc tự so sánh kết quả học tập của mình với kết quả đúng được GV xác nhận.
Một sô kĩ năng tự học 1. Nhóm kĩ năng định hướng Muốn quá trình tự học diễn ra có hiệu quả, người học cần định hướng học tập một cách rõ ràng và có hệ thống. Thông qua định hướng đó, người học có thể nhận thức, vạch ra kế hoạch học tập, kiểm tra - đánh giá và điều chỉnh hành động cho phù họp với kế hoạch đã đề ra. Một số các câu hỏi người học cần trả lời để xác định được định hướng đúng đắn có thể kể đến là: - Học nhằm mục đích gi? - Cần giữ thái độ học tập với bộ môn như thế nào để đạt được hiệu quả? - Cách học có thể sử dụng để việc học đạt được hiệu quả? 9 Ý thức tự học đối với môn học cần được xây dựng dựa trên niềm yêu thích của mỗi cá nhân đối với môn học đó.
Vì vậy, giáo viên trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học cần khơi dậy trong học sinh niềm say mê, hứng thú với môn học. Bản thân mồi người học bẩm sinh đều cỏ trong mình nhu cầu muốn được tìm hiểu, khám phá và chinh phục những tri thức mới. Ngay từ nhỏ, khi ở trong một môi trường mới, tiếp xúc với điều kiện mới, trẻ nhỏ đã đặt ra câu hỏi “Tại sao?”, “Như thế nào?”. Lúc này, nhiệm vụ của các nhà giáo dục (bao gồm cả phụ huynh học sinh) phải đưa ra lời giải đáp hoặc ít nhất cũng tạo điều kiện cho con em mình có cơ hội được tháo gỡ khúc mắc trong suy nghĩ của bản thân.
Tương tự như vậy, đối với học sinh THCS, đặc biệt là học sinh lóp 6, giáo viên cần không ngừng tạo ra những động lực mới xuất phát từ chính nội dung học tập, phương pháp và hình thức tồ chức hoạt động nhận thức.