CHƯƠNG 1 Sau khi tổng quan các nghiên cứu trước, với tổng cộng 9 công trình nghiên cứu nước ngoài và 7 công trình nghiên cứu trong nước tác giả đã phần nào bao quát được tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước về KTTN tại Việt Nam cũng như nước ngoài. KTTN trong DN là một công cụ hữu hiệu góp phần to lớn trong việc đưa ra quyết định để hoàn thành các kế hoạch, chiến lượt đã đề ra. Hiện nay thì nhiều DN đã thấy được tầm quan trọng của nó và đang dần hoàn thiện để triển khai vào DN của mình với mong muốn mang lại hiệu quả trong kinh doanh. Vì vậy tác giả cũng mong muốn qua nghiên cứu của mình có thể góp phần lắp vào một phần khe hổng của các nghiên cứu trước của KTTN.
13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này tác giả tập trung trình bày về bản chất và vai trò của kế toán quản trị, đồng thời trình bày tổng quan về kế toán trách nhiệm như: khái niệm, vai trò và nội dụng của kế toán trách nhiệm, đồng thời trình bày về lý thuyết nền của các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán trách nhiệm tại đơn vị. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị 2. Bản chất của kế toán quản trị Kế toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế, kế toán chủ yếu tập trung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chính của một tổ chức, các báo cáo này nhằm để truyền đạt thông tin tài chính của một tổ chức. Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin với các mục đích sử dụng khác nhau, sự khác nhau đó là tiêu thức để chia hệ thống thông tin kế toán thành hai bộ phận.
Một bộ phận chuyên cung cấp các thông tin cho đối tượng bên ngoài gọi là kế toán tài chính và một bộ phận chuyên cung cấp thông tin theo yêu cầu của nhà quản lý trong nội bộ gọi là kế toán quản trị. Theo Giáo trình kế toán quản trị của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2015): Kế toán tài chính (KTTC) (Finalcial Accounting) là “bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho những người ngoài doanh nghiệp, bao gồm người chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng và tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp. Những người này tiếp nhận thông tin qua các báo cáo tài chính, như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.16] Kế toán quản trị (KTQT) (Management accounting) là “quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này.17] 14 Theo luật Kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 và thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Do có đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, mục đích sử dụng thông tin khác nhau nên giữa KTQT và KTTC có nhiều khác biệt cơ bản về: đối tượng sử dụng thông tin, nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin, tính pháp lý, đặc điểm thông tin, hình thức báo cáo sử dụng, kỳ báo cáo.
Bên cạnh những điểm khác nhau thì KTTC và KTQT còn có những điểm giống nhau. KTTC và KTQT có nhiều điểm giống nhau là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp. Những điểm giống nhau cơ bản là: - KTQT và KTTC đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nguồn vốn, chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động… Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh chi tiết, tỉ mỉ của các vấn đề đó. - KTQT và KTTC đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán.
Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để KTTC soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài. Đối với KTQT , hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị. KTQT sử dụng rộng rãi các ghi chép hàng ngày của KTTC, mặc dù có triển khai và tăng thêm số liệu cũng như nội dung của các thông tin đó. - KTQT và KTTC đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý.
KTTC biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao, còn kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp. Nói cách khác KTTC hay KTQT đều dự phần quản lý doanh nghiệp. Như vậy, KTQT là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin kế toán 15 cho các nhà quản trị doanh nghiệp. KTQT về cơ bản dựa trên nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa khối lượng, chi phí, lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị.
Vai trò của Kế toán quản trị Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng dự toán kế hoạch: Để xây dựng một chiến lược phát triển hay các chiến lược định hướng trong tương lai của tổ chức cần phải có bản dự toán. Bản dự toán được lập dựa trên nguồn lực sẵn có và mục tiêu của DN, đòi hỏi phải có tính khả thi thì thông tin phải hợp lý, có cơ sở và chính xác, những thông tin này chủ yếu do KTQT cung cấp (Nguyễn Ngọc Quang, 2015) Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức, thực hiện kế hoạch: với chức năng tổ chức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp tốt nhất các nguồn lực sẵn có bao gồm con người và chi phí của DN lại với nhau để đạt được hiệu quả cao nhất các mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt các chức năng này, nhà quản trị cần nắm những thông tin về nguồn nhân lực, nguồn lực của DN và các phương án được đề xuất từ KTQT, để có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất trong quá trình tổ chức, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với các mục tiêu chung (Nguyễn Ngọc Quang, 2015). Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá: sau khi các kế hoạch, các quyết định được triển khai thực hiện thì các nhà quản trị sẽ tiến hành kiểm tra và đánh giá hiệu quả quá trình thực hiện công việc.
Nhà quản trị sẽ so sánh các kết quả thực hiện được với dự toán để từ đó đưa ra đánh giá đúng nhất về hiệu quả công việc. Việc đánh giá chuẩn xác phụ thuộc vào số liệu của báo cáo mà KTQT cung cấp, đòi hỏi thông tin phải chính xác, phản ánh được những vấn đề còn tồn đọng, từ đó nhà quản trị sẽ có tác động cụ thể hơn (Nguyễn Ngọc Quang, 2015). Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định (Nguyễn Ngọc Quang, 2015): khi các nhà quản trị đưa ra quyết định thực hiện một kế hoạch hoặc chiến lược nào đó cần phải có cơ sở và phải lựa chọn phương án tối ưu nhất trong các phương án đề ra. Cơ sở của việc ra quyết định này phụ thuộc vào tất cả thông tin về kết quả 16 thực hiện các khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá, mà KTQT cung cấp.
Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt, được thực thi trong suốt quá trình hoạt động của DN. Những thông tin này sẽ được KTQT tổng hợp, chọn lọc và phân tích, trình bày theo một trình tự dễ hiểu nhất và truyền đạt cho nhà quản trị. Không chỉ cung cấp thông tin thích hợp, mà KTQT còn vận dụng các kỹ thuật phân tích trong những trường hợp khác nhau, để nhà quản trị có cái nhìn tổng quan và cơ sở để ra quyết định thích hợp nhất. Tổng quan về kế toán trách nhiệm 2.
Một số khái niệm kế toán trách nhiệm Từ khi Robert Anthony công bố những nghiên cứu của mình về kế toán trách nhiệm vào năm 1956 đến nay, kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu và vận dụng trên khắp thế giới. Kế toán trách nhiệm là nội dung cơ bản của kế toán quản trị, vấn đề về kế toán trách nhiệm được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm với nhiều quan điểm. Nhóm tác giả Anthony A.mark Young (2001) khẳng định: kế toán trách nhiệm là một hệ thống làm nhiệm vụ thu thập, tổng hợp và báo cáo các thông tin có liên quan đến trách nhiệm của mỗi nhà quản lý riêng biệt ở một tổ chức, đồng thời cung cấp thông tin với mục đích đánh giá thành quả trách nhiệm mỗi nhà quản lý và tạo ra các báo cáo trách nhiệm đối với một cấp quản lý. Nhóm tác giả Weygandt, Kieso và Kimmel (2008) cho rằng kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán liên quan đến việc tích lũy và báo cáo về doanh thu và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra những quyết định trong phạm vi trách nhiệm của họ.
Nhóm tác giả Clive Emmanuel, David Otley and Kenneth Mar-chant (1990) lại xác định kế toán trách nhiệm là việc tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm trách nhiệm khác nhau trong một tổ chức. 17 Theo bài nghiên cứu Responsibility Accounting: An Overview, Atu,Omimi- Ejoor Osaretin Kingsley; Ogbeide Endurance; Journal of Business and Management, (2014,Volume 16, Issue 1. IV) thì kế toán trách nhiệm theo định nghĩa của (CIMA) là một hệ thống kế toán chia tách doanh thu và chi phí thành những trung tâm có trách nhiệm cá nhân để đánh giá hiệu quả hoạt động của những người được giao quyền hạn. Kế toán trách nhiệm cũng có thể được gọi là kế toán hoạt động.
Nó được sử dụng để đánh giá các biện pháp và giám sát quá trình phân quyền. Kế toán trách nhiệm nhằm mục đích cung cấp báo cáo kế toán.