PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cần thiết của đề tài Hệ thống thông tin kế toán (AIS) là nơi duy trì và tạo lập thông tin kế toán để các tổ chức phân tích, đánh giá, lập kế hoạch, và chuẩn đoán các động thái của các hoạt động và tình hình tài chính (Anthony và cộng sự, 1994). Vì thế, nếu hệ thống thông tin kế toán (TTKT) không chất lượng, sẽ không có TTKT chất lượng (Sacer và cộng sự, 2006). Do đó, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống TTKT là vấn đề cần thiết để tìm ra công cụ kiểm soát tốt nhất nhằm làm giảm rủi ro, gia tăng độ tin cậy của thông tin hơn.
Hệ thống thông tin kế toán (AIS) chặt chẽ giúp ngăn chặn những gian lận và sai sót một cách hiệu quả, là một phần quan trọng không thể tách rời trong vấn đề quản trị và quản lý những vấn đề bên trong nội bộ của doanh nghiệp. Vì thế, những người làm công việc kế toán phải có sự hiểu biết tinh tường quá trình thiết kế, phát triển ứng dụng và tổ chức hệ thống TTKT. Cùng với sự phát triển của khoa học, tin học được áp dụng vào AIS, điều này không chỉ dừng ở phần mềm kế toán thông thường mà còn bao trùm tất cả hoạt động các khối phòng ban trong toàn hệ thống doanh nghiệp. Tùy theo đặc thù của các doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có những quy trình khác nhau về hoạt động như: quy trình bán hàng, quy trình mua hàng, quy trình thanh toán.
Các quy trình thường hình thành do thói quen hoặc từ những quy định rời rạc. Một doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ thì đây không phải là vấn đề gây cản trở lớn. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển hoặc với những đơn vị quy mô vừa và lớn yêu cầu cần có một hệ thống thông tin kế toán minh bạch, rõ ràng trở nên cấp thiết trong quản trị kinh doanh. Sẽ không có một hệ thống TTKT tối ưu cho tất cả doanh nghiệp.
Do đặc thù kinh doanh của mỗi đơn vị sản xuất khác nhau, không thể áp dụng AIS của đơn vị này cho đơn vị khác. Vì vậy, mỗi công ty, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một AIS có bản sắc riêng. 2 Ngày nay, hệ thống thông tin kế toán (AIS) trong các tổ chức doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và của TP. HCM nói riêng đã đóng một vai trò hết sức hữu ích và quan trọng, không chỉ dừng lại ở việc ra quyết định, hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, điều hành và kiểm soát, mà còn đóng vai trò trong phân tích, dự báo và phòng ngừa rủi ro.
Nhiều quyết định được dựa trên thông tin thu được từ AIS và chúng được sử dụng làm tiền đề cho các quyết định phân bổ nguồn vốn sao cho hiệu quả, một cách hợp lý đem lại lợi ích hài hòa lớn nhất cho các cổ đông, các nhà đầu tư bên trong cũng như bên ngoài và vai trò của báo cáo tài chính (BCTC) là kênh chuyển thông tin hiệu quả cho người bên ngoài cũng như bên trong tổ chức một cách đáng tin cậy và kịp thời (Noravesh, H. Hệ thống thông tin kế toán (TTKT) còn là một hệ thống xử lý các nghiệp vụ và chuyển đổi dữ liệu kinh tế phát sinh thành TTKT phù hợp và tin cậy cho những người sử dụng trong việc hoạch định, lập kế hoạch và quản lý mọi hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Romney, Marshall, & Steinbart, 2012). Từ quan điểm của người dùng, hiệu quả của hệ thống TTKT quyết định chất lượng TTKT (Sacer et al. Những nghiên cứu trước đây đã được tiến hành tại các quốc gia khác nhau đã chỉ ra rằng kết quả của việc tăng hiệu suất, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động thông qua chất lượng AIS (Soudani, 2012).
Hơn nữa, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội có được lợi thế cạnh tranh khi họ cung cấp một hệ thống TTKT kém chất lượng, điều này dẫn đến hệ lụy là sẽ làm cho những nhà quản lý, nhà lãnh đạo, người sử dụng đưa ra những phán đoán, phán quyết hoặc dự báo thông tin sẽ bị sai lệch (Baltzan, 2012). Những bất thường trong kế toán như là báo cáo tài chính bị thao túng đã làm ảnh hưởng đến mối lo ngại của công chúng, của cổ đông về việc xác định chất lượng thông tin tài chính kế toán ban hành. Một vài ví dụ điển hình như: Megan Media Holdings Berhad’s, người kiểm soát tài chính đã tham gia vào các hành vi gian lận bằng cách làm sai lệch doanh thu và làm sai lệch tình hình tài chính của doanh nghiệp (Norwani, Mohamad, & Chek, 2011). Một ví dụ khác là sự sụp đổ của Enron vào năm 2001 là vụ phá sản lớn nhất ở Mỹ đã gây chấn động trên toàn thế giới (Li, 2014).
Mặt khác, theo Folger (2001), Enron liên quan đến hoạt 3 động phạm tội tài chính bằng cách che giấu những khoản nợ khổng lồ ra khỏi bảng cân đối tài chính, điều này đã đánh lừa các tài khoản liên quan đến tài chính. Mặt khác, các Giám Đốc của Enron đã biển thủ những quỹ đầu tư của những nhà đầu tư cũng như là trình bày một cách sai lệch báo cáo về thu nhập lợi nhuận, điều này dẫn đến báo cáo kế toán phản ánh không trung thực với các cổ đông. Việc cung cấp thông tin sai lệch với những bất thường trong kế toán tại Enron đã gây ra tổn thất, mất mát, nặng nề cho những cổ đông và các nhà đầu tư, những người mà phụ thuộc hoàn toàn về thông tin kế toán sai lệch (Pavel & Encontro, 2012). Hơn nữa, những vụ bê bối tài chính lớn đã nêu ở trên đây đã đưa ra những lời chỉ trích nặng nề trong bối cảnh nghề nghiệp kế toán hiện nay, người sử dụng thông tin đã thực sự giảm niềm tin vào sự trung thực và độ chính xác của thông tin kế toán (Istrate, 2010).
Do đó, những nhà sử dụng BCTC cần có sự hiểu biết cơ bản chất lượng thông tin mà bộ phận kế toán đã cung cấp nhằm ngăn chặn việc giải thích sai, điều này có thể đem đến hậu quả là đưa ra các quyết định không đúng. Các nhà đầu tư thông thường đánh giá các quyết định của họ dựa trên BCTC được cung cấp hoặc công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, vì vậy, họ luôn quan tâm đến chất lượng của thông tin kế toán được cung cấp. Tuy nhiên, một số nhà đầu tư lại cho rằng BCTC là không thật sự hữu ích và cần thiết trong tiến trình quyết định đầu tư của họ, trong khi những nhà đầu tư khác lại cho rằng báo cáo tài chính chưa đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu các thông tin cần thiết cho họ (Omar, Ismail, Ying and Yau, 2016). Đặc biệt, các nhà đầu tư Malaysia không tận dụng thông tin đầu tư từ các nguồn trực tuyến có sẵn, mà họ thích đưa ra những quyết định góp vốn đầu tư với lời khuyên từ gia đình, những người thân và bạn bè thân thiết của họ (Omar, Ismail, Ying and Yau, 2016).
Điều này, dẫn đến hệ lụy sâu xa là các nhà đầu tư đã đánh mất niềm tin và không còn quá phụ thuộc vào những thông tin về tài chính được cung cấp. Chính vì vậy, bài nghiên cứu nhấn mạnh các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT. Rapina (2014) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 4 hệ thống TTKT giữa các hợp tác xã ở Indonesia. (Muhamad Khalil Omar, Shakerin Ismail, Lee Pei Ying and Toh Chin Yau, 2016) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng AIS giữa những doanh nghiệp tư nhân ở Malaysia, với các biến độc lập: cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và văn hóa tổ chức.
Mặt khác, hiện nay các đề tài nghiên cứu trong nước, tác giả chưa tìm thấy có một nghiên cứu nào có sự kết hợp ba biến: hệ thống KSNB, cơ cấu và văn hóa tổ chức. Trên cơ sở nghiên cứu của Omar, Ismail, Ying và Yau, tác giả muốn kiểm định lại những nhân tố này tác động như thế nào và tầm ảnh hưởng của chúng ra sao trong các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) ở TP. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy đều tập trung các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT tại TP.HCM/Bình Dương, tác giả chưa thấy có một nghiên cứu nào đi sâu vào một doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ hay thương mại cụ thể. Vì những lý do trên và nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng hệ thống TTKT, nhiều tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài về chất lượng AIS theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời gian và không gian nghiên cứu khác nhau.
Tuy nhiên qua thống kê khảo sát, tác giả thấy rằng vẫn ít có nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng AIS của DNSX tại TP. HCM được thực hiện. Từ những phân tích phía trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất tại Thành Phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT của các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) tại TP.
Mục tiêu cụ thể: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT trong các DNSX tại Tp. 5 Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng hệ thống TTKT trong các DNSX tại Tp. Câu hỏi nghiên cứu Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, cần giải quyết hai câu hỏi được đặt ra như sau: Câu hỏi 01: Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống TTKT trong các DNSX tại Tp. HCM ? Câu hỏi 02: Mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến chất lượng hệ thống TTKT là như thế nào ? 3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố tác động đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất tại Tp. Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu Về không gian nghiên cứu: là các DNSX tại Tp. Về thời gian nghiên cứu: Luận văn chỉ thực hiện từ tháng 06/2019 đến tháng 11/2019.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu định lượng, cụ thể là: Tác giả dựa vào lý thuyết cơ sở có sẵn và các nghiên cứu của các tác giả trước đây để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng AIS tại các doanh nghiệp.