CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của CMCN 4.0, việc ứng dụng CNTT vào AIS ngày càng cần thiết và đặc biệt được các NNC cả trong và ngoài nước bình luận và đánh giá. Đứng từ góc nhìn của cá nhân, Ahmad và cộng sự (2016) đã tiến hành NC chủ đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các kỹ thuật kiểm toán với sự hỗ trợ của máy tính ở Jordan”.
NC này đã thực hiện phân tích các nhân tố: (1) Kỳ vọng hiệu suất, (2) Kỳ vọng nỗ lực, (3) Ảnh hưởng xã hội và (4) Điều kiện thuận lợi ảnh hưởng đến việc sử dụng kỹ thuật kiểm toán hỗ trợ bằng máy tính của kiểm toán nội bộ (CAATs) tại Jordan. Nhà nghiên cứu (NCC) đã đưa ra kết luận cho thấy hai nhân tố (1) Kỳ vọng hiệu suất và (4) Điều kiện thuận lợi có mức độ ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng CAATs. Những phát hiện trong NC này có ý nghĩa quan trọng đối với cả học viên và cơ quan quản lý ở Jordan bởi CAATs có thể hỗ trợ cải thiện chất lượng của báo cáo tài chính (BCTC) trong DN như tăng khả năng phát hiện ra sai sót trọng yếu hay biển thủ tài sản. NCC cũng chỉ ra thiếu sót của NC này là không xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến ý định sử dụng CAATs của kiểm toán viên.
Mặc dù, NC kiểm tra dựa trên một mẫu của các kiểm toán viên, tuy nhiên, số lượng mẫu còn hạn chế, mẫu có thể không đại diện đầy đủ cho toàn bộ và do đó có thể xảy ra sai lệch trong việc lựa chọn mẫu. Theo góc nhìn từ phía DN, NC của Fitrios (2015) chỉ ra “các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán tại Indonesia”. Mục đích của NC này là nhằm xác định ảnh hưởng của hai nhân tố “cam kết quản lý cấp cao” và “đào tạo người dùng” đối với việc triển khai AIS. NCC đã đưa ra hai giải thuyết trong bài NC.
Giả thuyết đầu tiên là “Cam kết của các nhà quản lý cấp cao và đào tạo nhân viên sử dụng có tác động đáng kể đến việc thực hiện AIS”. Giả thuyết thứ hai là về “chất lượng thông tin kế toán bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc thực hiện AIS’’. NC thực hiện khảo tại một số bệnh viện loại A, B và C ở tỉnh Riau, Indonesia. Số bệnh viện đạt tiêu chí có áp dụng AIS là 42 bệnh viện.
Dữ liệu thu được cho kết quả về 2 yếu tố được đưa ra là "cam kết của quản lý cấp cao" và "đào tạo người dùng" đều có tác động đáng kể đến việc triển khai HTTT tại các bệnh viện được khảo sát. Bên cạnh đó, NC cũng chỉ ra việc triển khai AIS có tác động đến chất lượng của thông tin KT. 5 Tuy nhiên, NC này chỉ mới đo lường 2 yếu tố “cam kết quản lý và đào tạo người dùng” ảnh hưởng đến việc thực hiện AIS mà chưa xem xét các góc nhìn khác về AIS mà có tác động đến thành quả DN khi áp dụng CNTT. Cũng sử dụng phương pháp NC định tính, Anna và Maria (2017) tìm hiểu về “tác động của CN số tới các công cụ và phương pháp làm việc trong lĩnh vực kiểm toán”.
Dữ liệu NC được thu thập thông qua 14 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các kiểm toán viên hành nghề. Kết quả thu được từ NC cho thấy hiệu quả (HQ) từ phương pháp làm việc trên các công cụ về CN số của các kiểm toán viên HQ hơn so với phương pháp truyền thống, do giảm thiểu được đáng kể giấy tờ và tăng tính linh hoạt trong công việc. NC cũng chỉ ra rằng để có thể thích ứng với các ngành nghề kiểm toán đang bước vào giai đoạn chuyển đổi số thì thị trường lao động đòi hỏi những ứng viên không chỉ có năng lực chuyên môn mà cần phải sử dụng thành thạo các CN hỗ trợ. Do đó, việc nâng cao năng lực chuyên môn thông qua giáo dục được coi là rất cần thiết, đặc biệt cần phát triển giáo dục trong bối cảnh áp dụng CN số để nâng cao năng lực của những kiểm toán viên hành nghề.
Nghiên cứu trong nước Ngày nay, cuộc CMCN 4.0 nổ ra đòi hỏi các quốc gia phải biết vận dụng CN trong tất cả các lĩnh vực để phát triển đất nước. Việt Nam cũng không là ngoại lệ bởi việc phát triển kinh tế số là cơ hội để giúp nước ta thu hẹp khoảng cách với cường quốc trên thế giới. Vận dụng CN vào nền kinh tế như trí tuệ nhân tạo, CN Blockchain, điện toán đám mây,. đòi hỏi thị trường lao động phải cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng CNTT.
Điều này đặt ra thách thức cho các cơ sở giáo dục, các trường đại học, cao đẳng về chương trình, nội dung giảng dạy cũng như sự kết nối giữa nhà trường và DN trong đào tạo NC khoa học và chuyển giao CN. Việc vận dụng CNTT khi thực hiện các nghiệp vụ KT là một điều cần thiết. KT, kiểm toán viên phải ý thức được tầm quan trọng của CNTT để ứng dụng trong các giai đoạn KT bao gồm: “Thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin”. Dưới sự phát triển của CNTT thì máy móc có thể hỗ trợ đáng kể các giai đoạn này.
Điều này đòi hỏi KT phải có hiểu biết về CN, sử dụng thành thạo CNTT trong thực hành công việc của mình, để ứng dụng sao cho phù hợp xu thế, tiết kiệm nguồn lực và gia tăng HQ công việc. Có thể nói rằng, CNTT đã và đang thay đổi, có sức ảnh hưởng khá lớn đến công tác tổ chức KT, cụ thể hơn là chất lượng thông tin KT. 6 Ngoài ra, tác giả Nguyễn Hoàng Nam (2021) khi NC về các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT vào lĩnh vực KTKT tại Việt Nam đã đưa ra một số nhận định. NCC đã quan sát và tìm hiểu về mối quan hệ giữa các nhân tố “Kỳ vọng hiệu suất”, “Kỳ vọng nỗ lực”, “Ảnh hưởng xã hội” và “Điều kiện thuận lợi” đối với “Hành vi ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực KTKT”.
Dề tài kết hợp giữa phương pháp định tính thông qua thảo luận trực tiếp với chuyên gia và phương pháp định lượng dựa trên kết quả phân tích hồi quy bội. Bài NC dựa trên mô hình mà Ebrahim (2016) đã áp dụng trước đó. NCC đã khảo sát 200 nhân viên, quản lý đang làm việc trong lĩnh vực KTKT và áp dụng thang đo Likert với 5 mức độ đánh giá. Kết quả NC chỉ ra rằng hai yếu tố “Kỳ vọng nỗ lực” và “Điều kiện thuận lợi” có sự ảnh hưởng đến yếu tố “Hành vi ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực KTKT” tại Việt Nam.
Ngoài ra, yếu tố “Điều kiện thuận lợi” có tác động mạnh hơn yếu tố “Kỳ vọng nỗ lực”. Tuy nhiên, NC vẫn còn chưa chặt chẽ. Đầu tiên, dữ liệu mẫu được thu thập ngẫu nhiên mà không có sự phân biệt về nhân viên, quản lý đang làm việc trong lĩnh vực KTKT, hay còn hạn chế ở đối tượng DN khi chỉ NC tại Việt Nam. Ở một mức độ nào đó việc này có thể dẫn đến sự khác nhau nếu mẫu NC được lựa chọn ở cấp bậc, trình độ đối tượng được khảo sát (hồi đáp) thay đổi.
Thứ hai, kết quả không giải thích đầy đủ hành vi và ý định của KT viên, kiểm toán viên. NC mới chỉ xem xét tác động của 4 nhân tố, bao gồm: “Kỳ vọng hiệu suất”, “Kỳ vọng nỗ lực”, “Ảnh hưởng xã hội” và “Điều kiện thuận lợi” đối với “Hành vi ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực KTKT” tại Việt Nam. Trên thực tế còn nhiều các nhân tố kinh tế khác tác động đến “Hành vi ứng dụng CN trong lĩnh vực KTKT” như: quy định của nhà nước, chính sách công ty. quy mô doanh nghiệp, mức độ phức tạp của CN,.
còn chưa được đề cập trong NC này. Vì vậy, các NC sau có thể xem xét mở rộng các biến để đề tài được bao quát. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, dữ liệu mẫu phải thực hiện thông qua khảo sát trực tuyến. Ưu điểm của hình thức này là nhanh chóng, dễ thống kê và xử lý dữ liệu; mặt khác, tác giả lại không thể chắc chắn đối tượng trả lời khảo sát hiểu hết toàn bộ ý nghĩa câu hỏi.
Nhóm nghiên cứu Lương Đức Thuận và Trương Thị Thu Hương (2019) với chủ đề “Các yếu tố tổ chức và chất lượng của hệ thống thông tin kế toán ở Việt Nam”. NCC phân tích 2 yếu tố chính đó là: (1) Cam kết của doanh nghiệp và (2) Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Thông qua sử dụng kết nối cả 2 phương pháp định tính và định lượng, NCC cho rằng “cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là yếu tố có tác động lớn nhất đến AIS”. 7 Tuy nhiên bài NC này mới thành công ở những yếu tố vĩ mô rộng lớn trên góc độ của DN, chưa đề cập đến những yếu tố nội bộ bên trong DN.
NCC chỉ thực hiện một cuộc điều tra khảo sát tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, do đó tính tổng quát của NC chưa cao và còn hạn chế. Bên cạnh đó, mức độ giải thích của biến độc lập cho biến phụ thuộc không cao, vì còn nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng đến chất lượng của AIS. Vì vậy, các NC sâu hơn nên được tiến hành trong các lĩnh vực để có một bức tranh toàn diện hơn với kích thước mẫu lớn hơn và xem xét các các nhân tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng của AIS tại Việt Nam. Cùng bối cảnh và thời gian, đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trang bị công nghệ thông tin kế toán doanh nghiệp” do NCC Vũ Thị Thanh Bình (2019) thực hiện.
Các biến NC được sử dụng trong bài như: “Mức độ trang bị CNTT của AIS”, “Quy mô doanh nghiệp”, “Trình độ chuyên môn” và “Kinh nghiệm làm việc”. Bài NC đã xây dựng khung lý luận cơ bản và NC các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng AIS tại các DN vừa và nhỏ. Ngoài ra, do NC này chưa đưa thêm được các nhân tố khác tác động đến AIS và chưa chỉ rõ được mức độ ảnh hưởng của nó đến HQ hoạt động của DN nên chưa đảm bảo tính chặt chẽ của đề tài.