LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Mối quan hệ giữa chính sách thuế và chuẩn mực, chế độ kế toán luôn là vấn đề đƣợc các nhà xây dựng chính sách của các quốc gia đặc biệt quan tâm. Nghiên cứu lịch sử thông lệ kế toán và chính sách thuế các nƣớc có thể thấy tồn tại 2 quan điểm về mối quan hệ này: Đó là quan điểm : Sự thống nhất giữa chính sách thuế và kế toán. Theo quan điểm này, các quy định của chính sách thuế và chuẩn mực, chế độ kế toán liên quan có sự thống nhất với nhau.
Thông tin kế toán đƣợc sử dụng trực tiếp cho mục đích tính thuế mà không cần thực hiện điều chỉnh, nên giảm thiểu đƣợc sự phức tạp trong việc sử dụng thông tin kế toán cho mục đích kê khai, quyết toán thuế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Ngoài ra, sự thống nhất giữa chính sách thuế và kế toán cũng đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, việc thống nhất chính sách kế toán và chính sách thuế có thể dẫn đến thông tin kế toán chủ yếu đặt trọng tâm vào mục tiêu tính thuế nên sẽ giảm tính hữu ích đối với các chủ thể sử dụng thông tin khác. Hạn chế này càng bộc lộ rõ trong điều kiện thực hiện nền kinh tế toàn cầu.
Vì vậy, hiện nay quan điểm này ít đƣợc áp dụng khi xây dựng chính sách thuế và kế toán của các quốc gia. Quan điểm thứ hai, đó là sự độc lập tƣơng đối giữa chính sách thuế và kế toán. Thông tin kế toán đƣợc cung cấp cho các đối tƣợng sử dụng khác nhau và cần thực hiện điều chỉnh cho mục đích tính nghĩa vụ thuế. Quan điểm này đảm bảo chính sách kế toán và chính sách thuế đƣợc xây dựng theo các mục tiêu khác nhau, phù hợp với đặc thù của từng chính sách.
Với tƣ cách là một công cụ điều tiết kinh tế, chính sách thuế hƣớng đến mục tiêu điều tiết kinh tế vĩ mô và đảm bảo nguồn thu của ngân sách nhà nƣớc trong từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu phát triển và các chính sách kinh tế khác. Trong khi đó, hệ thống kế toán đƣợc xây dựng nhằm cung cấp thông tin tài chính thích hợp và tin cậy cho các đối tƣợng có nhu cầu sử dụng thông tin, nhằm giúp chủ thể ra các quyết định kinh tế phù hợp. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa chính sách thuế và kế toán làm gia tăng tính phức tạp cho công tác kế toán tại các đơn vị, cũng nhƣ sự phức tạp trong việc sử dụng thông tin kế toán để kê khai, quyết toán thuế. Về phƣơng diện quản lý nhà nƣớc sự khác biệt giữa chính sách kế toán và chính sách thuế cũng gây ra những khó khăn, 2 phức tạp nhất định đối với công tác quản lý, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế của các đơn vị.
Qua tìm hiểu 2 quan điểm trên, có thể nhận thấy việc lựa chọn vận dụng quan điểm nào để xây dựng chính sách thuế trong mối quan hệ với hệ thống kế toán đều có những ƣu điểm và hạn chế nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, ngày càng nhiều các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ vào Việt Nam. Họ mong muốn có đƣợc một hệ thống kế toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là kế toán liên quan đến lĩnh vực thuế, một mối liên hệ quan trọng với chính phủ. Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, bên cạnh việc cải cách chính sách thuế thì vấn đề hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp phù hợp với chính sách thuế cũng không kém phần quan trọng. Xuất phát từ vấn đề trên, luận văn " Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp” nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa chế độ kế toán và chính sách thuế để xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và thực hành thu thuế trong giai đoạn hiện nay.
Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của luận văn: 2. Mục đích nghiên cứu của luận văn: - Tìm hiểu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và yêu cầu công tác quản lý thuế. - Nghiên cứu thực trạng thực hành kế toán doanh nghiệp và chính sách thuế tại các doanh nghiệ. - Đề ra các quan điểm và phƣơng pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp trong mối quan hệ với thuế.
Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn: - Khẳng định vai trò quan trọng, ý nghĩa của thông tin kế toán doanh nghiệp có liên quan đến công tác quản lý thuế. - Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý thuế. - Góp phần nâng cao chất lƣợng quản lý và thực hành thu thuế. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp và chính sách thuế hiện nay. Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu hệ thống biểu mẩu, phƣơng pháp kế toán, công tác quản lý thu thuế của Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu: hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp và hệ thống quản lý thuế Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài là các phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh kết hợp giữa phân tích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
- Số liệu trình bày trong luận văn đƣợc khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: số liệu thống kê của ngành thuế, website của tổng cục thuế, website của Cục thuế TP. Hồ Chí Minh, webketoan. Kết cấu luận văn: CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN VÀ THUẾ. CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ HIỆN NAY.
CHƢƠNG III: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN VÀ THUẾ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢN QUẢN LÝ THU THUẾ 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN VÀ THUẾ 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP.1 Quá trình hình thành và phát triển của kế toán: Ở thời kỳ nguyên thủy, các cách thức đo lƣờng, ghi chép, phản ánh đƣợc tiến hành bằng những phƣơng thức đơn giản, nhƣ: đánh dấu trên thân cây, ghi lên vách đá, buột nút trên các dây thừng… để ghi nhận những thông tin cần thiết. Các công việc trên trong thời kỳ này phục vụ cho lợi ích từng nhóm cộng đồng. Khi xã hội chuyển sang chế độ nô lệ với việc hình thành giai cấp chủ nô, nhu cầu theo dõi, kiểm soát tình hình và kết quả sử dụng nô lệ, tài sản của chủ nô nhằm thu đƣợc ngày càng nhiều sản phẩm thặng dƣ đã đặt ra những yêu cầu cao hơn trong công việc của kế toán. Các kết quả nghiên cứu của những nhà khảo cổ học cho thấy các loại sổ sách đã đƣợc sử dụng để ghi chép thay cho cách ghi và đánh dấu thời nguyên thủy.
Các sổ sách này đã đƣợc cải tiến và chi tiết hơn trong thời kỳ phong kiến để đáp ứng với những phát triển mạnh mẽ trong các quan hệ kinh tế trong cộng đồng. Kế toán còn đƣợc sử dụng trong các phòng đổi tiền, các nhà thờ và trong lĩnh vực tài chính Nhà nƣớc… để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh toán và buôn bán. Mặc dù có nhiều đổi mới về cách thức ghi chép, phản ánh các giao dịch nói trên qua các giai đoạn phát triển của xã hội nhƣng kế toán vẫn chƣa đƣợc xem là một khoa học độc lập cho đến khi xuất hiện phƣơng pháp ghi kép. Theo cách nhìn đó thì kế toán đã có những phát triển về phƣơng pháp ghi chép để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao trong nền sản xuất hàng hóa.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá rất cao vai trò của ghi kép đối với sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản. Sự xuất hiện của phƣơng pháp ghi kép đã trợ giúp việc theo dõi, giám sát các quan hệ thƣơng mại ngày càng tăng, quan hệ tín dụng giữa ngƣời mua và ngƣời bán, giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay trong xu thế dịch chuyển của các dòng tƣ bản ngày càng lớn giữa các vùng. Ngoài ra, phƣơng pháp ghi kép cho phép các nhà tƣ bản hoạch định và đo lƣờng ảnh hƣởng của các giao dịch kinh tế, đồng thời tách biệt quan hệ giữa ngƣời chủ sở hữu với doanh nghiệp để thấy rõ sự phát triển của các tổ chức kinh doanh. Kế toán không chỉ là sự ghi chép và cung cấp thông tin cho ngƣời quản lý ở doanh nghiệp mà còn có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho những đối tƣợng bên ngoài, nhƣ: cơ quan thuế, ngân hàng và các tổ chức tài 5 chính khác, nhà đầu tƣ, nhà cung cấp, khách hàng…Việc công bố thông tin kế toán ra bên ngoài đƣợc xem là một yêu cầu khách quan của thực tiễn để nhà nƣớc vận hành nền kinh tế tốt hơn; để các tổ chức kinh tế và cá nhân liên quan có điều kiện đánh giá các khoản vốn đầu tƣ của mình hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất.
Vấn đề này đặt ra cho kế toán phải công bố những thông tin gì cho bên ngoài để vừa đảm bảo tính bí mật thông tin của từng doanh nghiệp, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin của cộng đồng kinh doanh. Để đáp ứng những đòi hỏi đó, các hiệp hội nghề nghiệp về kế toán (có thể có sự can thiệp của chính phủ) đã xây dựng những qui tắc chung trong ghi chép, phản ánh và công bố các giao dịch kinh tế. Đ ây là một nhu cầu khách quan để ngƣời làm công việc kế toán có thể đạt đƣợc những thống nhất ở một chừng mực nhất định trong xử lý và cung cấp thông tin. Tóm lại: sự ra đời và phát triển của kế toán gắn liền với sự phát triển các họat động kinh tế và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán.
Ở mỗi quốc gia, sự phát triển của kế toán phụ thuộc vào các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và những tập quán riêng. Tuy nhiên, khoa học kế toán ngày nay không còn giới hạn trong biên giới của mỗi nƣớc mà đã có những biểu hiện có tính toàn cầu hóa.