CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả lược khảo lại các nghiên cứu trước có liên quan đến luận văn đặc biệt là các bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT tại các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Để từ đó tác giả đưa ra được nhận xét về kết quả mà các nghiên cứu trước đã tìm được và xác định khe hổng nghiên cứu. Kết cấu của chương này như sau: - Các nghiên cứu nước ngoài - Các nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT tại các quốc gia trên thế giới - Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT - Các nghiên cứu ở Việt Nam - Các nghiên cứu về Tổ chức KTQT trong DN - Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT trong doanh nghiệp 1.
Tổng quan các nghiên cứu trước 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Các nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT tại các quốc gia trên thế giới Tác giả Ghosh và Chan (1997) khi nghiên cứu về ứng dụng KTQT tại Singapore, đã nhận thấy các công ty áp dụng rất nhiều kỹ thuật khác nhau của KTQT. Tuy nhiên, các kỹ thuật mới như quản lý chất lượng toàn diện (TQM), xác định chi phí trên cơ sở hoạt động (ABC) được áp dụng khá hạn chế bởi các DN trong nước so với các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Singapore.
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mức độ áp dụng các kỹ thuật KTQT ở hai nhóm công ty là khác nhau. Như: kỹ thuật sử dụng dự toán để đánh giá thành quả (Using budget for performance evaluation) các công ty đa quốc gia áp dụng 100%, trong khi các DN trong nước chỉ áp dụng 93%; sử dụng lập kế hoạch dài hạn (Using of long-term planning): các công ty đa quốc gia áp dụng 89% và DN nội địa áp dụng 55%; đối với kỹ thuật xác định chi phí trên cơ sở hoạt động (ABC) thì các công ty đa quốc 8 gia áp dụng 14%, còn các DN trong nước chỉ áp dụng 11%. Mức độ hài lòng với hệ thống kế toán quản trị ở các công ty đa quốc gia và địa phương lần lượt là 71% và 66%. Nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998), trong một nghiên bài nghiên cứu với tựa đề việc áp dụng và lợi ích của thực hành kế toán quản trị: một nghiên cứu tại Úc “Adoption and benefits of management accounting practices: an Australian study”.
Hai nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Monash của Úc đã tiến hành khảo sát 140 nhà quản lý của các công ty sản xuất với một bảng câu hỏi khảo sát gồm 42 phần hành của KTQT để khảo sát về việc áp dụng KTQT truyền thống và hiện đại trong các công ty sản xuất ở Úc. Những phần hành này được chia thành 5 nhóm chính theo chức năng: Lập kế hoạch dài hạn, hệ thống dự toán chi tiết, chi phí sản xuất, đánh giá thành quả, hệ thống hỗ trợ ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống cao hơn so với các kỹ thuật mới được phát triển. Tuy nhiên, các kỹ thuật mới như chi phí dựa trên hoạt động (ABC) đã được áp dụng rộng rãi hơn so với các nghiên cứu trước đó, và nhiều công ty sản xuất lớn có ý định chú trọng hơn vào các kỹ thuật mới trong tương lai.
Và hai tác giả này cũng đã đưa ra gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai là các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ áp dụng của các kỹ thuật KTQT phát triển gần đây giữa các quốc gia. Nối tiếp nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) vào năm 2005 Hyvonen đã sử dụng phương pháp tương tự để nghiên cứu về tổ chức áp dụng KTQT tại Phần Lan“Adoption and benefits of management accounting systems: evidence from Finland and Australia”. Hyvonen nhận thấy rằng đa số các doanh nghiệp Phần Lan áp dụng kỹ thuật KTQT truyền thống, chủ yếu là sử dụng lợi nhuận để đánh giá hiệu quả hoạt động; dự toán ngân sách để kiểm soát chi phí; phân chia chi phí thành biến phí và định phí; dự toán chi phí theo biến phí, định phí. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp ở Phần Lan áp dụng các kỹ thuật KTQT mới phát triển gần đây nhiều hơn các doanh nghiệp ở Úc.
9 Trong khi đó, tại Châu Á vào năm 2001 Joshi đã tiến hành nghiên cứu về thực hành kế toán quản trị tại Ấn Độ bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of International Accounting, Auditing & Taxation 10 (2001) 85-109 với tựa đề “The International diffusion of new management accounting practices: the case of India”. Từ năm 1991, với sự tự do hóa nền kinh tế Ấn Độ đã tăng lên áp lực cạnh tranh quốc tế và thay đổi nhu cầu thông tin. Nghiên cứu đã tiến hành trên một mẫu gồm 60 công ty sản xuất lớn và vừa tại Ấn Độ. Joshi cũng dựa trên mô hình nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) nhưng thêm ba kỹ thuật của KTQT: Chi phí tiêu chuẩn, lập ngân sách trên cơ sở không (zero based budgeting) và dòng chi phí ngược (back flush costing) để khảo sát về mức độ áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống và hiện đại kết quả thu thập từ 60 công ty sản xuất có quy mô lớn và vừa ở Ấn Độ đã chỉ ra tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật truyền thống cao hơn các kỹ thuật phát triển gần đây.
Phát hiện này giống với phát hiện trong nghiên cứu tại Úc. Đặc biệt, dự toán và đánh giá hiệu quả truyền thống được áp dụng rộng rãi, trong khi tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật phát triển gần đây nói chung là thấp và chỉ tăng từ từ. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp cho biết họ dự định tập trung vào thực hành truyền thống chứ không phải là kỹ thuật mới được phát triển. Kết luận này đi ngược lại với phát hiện của Chenhall và Langfield-Smith (1998) khi nghiên cứu các công ty ở Úc.
Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT Nghiên cứu của Magdy Abdel-Kader và Robert Luther được đăng trên tạp chí British Accouting Review (2008) “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis” 2008. Dựa trên mô hình phát triển của KTQT do IFAC (1998) đề xuất, cùng với việc sử dụng một danh sách 38 nội dung thực hành KTQT để điều tra thực trạng áp dụng KTQT trong ngành Công nghiệp thực phẩm và đồ uống ở Anh. Hai nhà nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ của đặc tính doanh nghiệp lên thực hành kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống tại Anh, bởi lẽ đây là một ngành công nghiệp lớn nhất tại Anh lúc bấy giờ. Trong bài nghiên cứu này, họ đã xem xét ảnh hưởng của 10 khía cạnh của các đặc điểm bên 10 trong và bên ngoài doanh nghiệp lên thực hành kế toán quản trị trong các công ty riêng lẻ và chia làm ba nhóm đặc trung của doanh nghiệp.
Bao gồm: Nhóm đặc điểm bên ngoài: [1] Tính không chắc chắn của môi trường; [2] quyền lực của khách hàng. Nhóm đặc điểm của tổ chức: [3] Chiến lược cạnh tranh; [4] Cơ cấu tổ chức; [5] Quy mô doanh nghiệp. Nhóm đặc điểm về quy trình: [6] Mức độ phức tạp của hệ thống xử lý; [7] Mức độ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến; [8] Thực hiện quản trị chất lượng toàn diện; [9] Thực hiện hệ thống sản xuất tức thời-JIT; [10] Tính mau hỏng của sản phẩm. Và sau khi tiến hành gửi bảng câu hỏi khảo sát đến 650 công ty thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống họ đã thu về 245 bảng câu hỏi hoàn tất để sử dụng phân tích.
Bảng khảo sát được gửi đến hai nhóm đối tượng khảo sát khác nhau: kế toán quản trị và quản lý sản xuất làm cho kết quả nghiên cứu được khái quát hơn. Kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy 7 trong số 10 nhân tố này tác động tích cực đế thực hành kế toán quản trị; còn lại ba nhân tố không tác động đến thực hành kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống tại Anh gồm:[H4] Mức độ phức tạp của hệ thống xử lý; [H8] Chiến lược cạnh tranh; [H10] tính mau hỏng của sản phẩm. Trong đó đáng chú ý là biến tính mau hỏng của sản phẩm, biến này chưa được các nhà nghiên cứu trước đây đề cập đến nên tác giả cho rằng đây sẽ là biến tiềm năng ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng kế toán quản trị, nhưng dữ liệu phân tích cho kết quả trái với kỳ vọng ban đầu. Các kết quả có được từ phân tích dữ liệu của 122 câu hỏi cho thấy các kỹ thuật của KTQT truyền thống đã được sử dụng thường xuyên hơn so với các kỹ thuật gần đây.
Chẳng hạn như chi phí trực tiếp được sử dụng rộng rãi hơn chi phí theo hoạt động (ABC). Nghiên cứu cũng chỉ ra các DN trong ngành Công nghiệp thực phẩm và đồ uống ở Anh đang ở giai đoạn 2 và đầu giai đoạn 3 trong mô hình phát triển KTQT theo đề xuất của IFAC (1998). Điểm mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó là tác giả đã đưa ra hai biến chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây: quyền lực khách hàng và tính mau hỏng của sản phẩm. 11 Nghiên cứu của Alper Erserim (2012) “The impacts of organizational culture, firm’s characteristics and external environment of firms on management accounting practices: an empirical research on industrial firms in Turkey”.
Mô hình nghiên cứu của Alper Erserim đưa ra năm nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị. Trong đó có hai nhân tố thuộc đặc điểm bên ngoài doanh nghiệp: [1] sự cạnh tranh; [2] mức độ không chắc chắn của môi trường, và ba nhân tố bên trong doanh nghiệp: [3] văn hóa; [4] mức độ tập trung; [5] mức độ chính thức của doanh nghiệp. Điểm mới của bài nghiên cứu là tác giả đã tập trung vào nghiên cứu biến văn hóa tổ chức trong doanh nghiệp ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã tiến hành nghiên cứu theo cách khác với các nghiên cứu trước trong việc xác định sự ảnh hưởng của nhân tố văn hóa được đại diện thông qua bốn biến …đặc trưng cụ thể trong các doanh nghiệp: văn hóa sáng tạo, văn hóa hỗ trợ, văn hóa dựa trên nguyên tắc; văn hóa định hướng mục tiêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có hai nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng kế toán quản trị là văn hóa tổ chức và mức độ chính thức của doanh nghiệp.