chương 1 sẽ được làm rõ hơn trong những chương tiếp theo. 10 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm HTTTKT là hệ thống dùng để thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu để tạo ra thông tin cho người ra quyết định (Romney and Steinbart, 2015). HTTTKT là một nhóm tích hợp các hệ thống/các thành phần cả vật chất và phi vật chất tương quan với nhau xử lý các giao dịch liên quan đến vấn đề tài chính thành thông tin tài chính (Susanto, 2015).
HTTTKT đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, được xem như là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả hoạt động và hỗ trợ các hoạt động quản lý bao gồm cả việc đưa ra quyết định (Gelinas and Dull, 2005). Tổng hợp từ các quan điểm trên, HTTTKT là một hệ thống được dùng để thực hiện chức năng thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính cho các đối tượng quan tâm cũng như kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp. Thành phần của HTTTKT HTTTKT gồm có 6 thành phần cơ bản , đó là: - Con người: người sử dụng hệ thống (thuộc thành phần tổ chức của hệ thống thông tin) - Quy trình và thủ tục: được sử dụng để thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu (thuộc thành phần tổ chức của hệ thống thông tin) - Dữ liệu: dữ liệu về tổ chức và các hoạt động kinh doanh của tổ chức (thuộc thành phần công nghệ thông tin của hệ thống thông tin) - Phần mềm: được sử dụng để xử lý dữ liệu (thuộc thành phần công nghệ thông tin của hệ thống thông tin) - Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: bao gồm máy tính, thiết bị ngoại vi, 11 thiết bị truyền thông mạng được sử dụng trong HTTTKT (thuộc thành phần công nghệ thông tin của hệ thống thông tin) - Kiểm soát nội bộ và an ninh: nhằm bảo vệ dữ liệu HTTTKT (thuộc thành phần quản lý của hệ thống thông tin) 2. Chất lƣợng HTTTKT Chất lượng là khả năng của một sản phẩm (hoặc dịch vụ) đáp ứng được hoặc vượt quá sự mong đợi của khách hàng (Stair and Reynolds, 2010).
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng HTTTKT. Theo quan điểm của nhóm tác giả (Stair and Reynolds, 2010) thì chất lượng HTTTKT phải linh hoạt, hữu hiệu, truy cập được và kịp thời. Có năm thông số để đo lường hệ thống thông tin, đó là phạm vi, thời gian, chi phí, chất lượng và rủi ro (Laudon and Laudon, 2011). Chất lượng được hiểu là thành công theo DeLone & McLean.
Thật vậy, mô hình hệ thống thông tin thành công DeLone & McLean 1992 và 2003 là một trong những mô hình đo lường sự thành công của hệ thống thông tin. Hai tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây về sự thành công của hệ thống thông tin và đưa ra cơ sở chặt chẽ cho hướng nghiên cứu trong tương lai. Thang đo chất lượng hệ thống thông tin được DeLone & McLean hướng tới tính sử dụng dễ dàng, đáng tin cậy, linh hoạt, có chức năng, chất lượng dữ liệu, tính tích hợp và tâm quan trọng (DeLone and McLean, 2003). Wixom and Todd (2005) và Ong et al.
Dựa trên cơ sở nghiên cứu của Wixom and Todd (2005), Ong et ai (2009), Stair and Reynolds (2010), Laudon and Laudon (2011) sử dụng các yếu tố tích hợp, linh hoạt, đáng tin cậy và hữu hiệu để đo lường chất lượng HTTTKT. 12 Trong khi đó, Sačer và Oluić (2013) đưa ra khái niệm: “Chất lượng của HTTTKT là sự đồng bộ và hợp nhất các thành phần gồm phần cứng, phần mềm, bộ xử lý, mạng viễn thông, chất lượng cơ sở dữ liệu, chất lượng công việc và sự hài lòng của người dùng”. Trong khái niệm của Sačer và Oluić (2013) đưa ra, chất lượng HTTTKT tập trung nhiều về mặt kỹ thuật mà chưa nhấn mạnh về thông tin kế toán, trong khi bản chất của HTTTKT là một hệ thống thông tin và mục đích cuối cùng là sinh ra thông tin kế toán để cung cấp cho các đối tượng liên quan. Tương tự Susanto (2015) đưa ra ba thang đo chất lượng HTTTKT gồm tích hợp, đáng tin cậy và linh hoạt.
Trong đó, tích hợp hệ thống bao gồm việc tích hợp các thành phần và chức năng với nhau; độ tin cậy của HTTTKT phụ thuộc vào cách thiết kế và quản lý của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cũng như mức độ bảo mật an ninh của hệ thống, đồng thời độ tin cậy tập trung vào mức độ mà người dùng có thể cho rằng hệ thống luôn có sẵn cho người dùng sử dụng; tính linh hoạt thể hiện ở chỗ việc thiết kế hệ thống có ích cho những người cần sử dụng, bao gồm cả khách hàng và lập trình viên. Ngoài ra, Syaifullah (2014) đo lường chất lượng HTTTKT thông qua ba khía cạnh: khía cạnh của hiệu quả, bao gồm (1) sử dụng nguồn lực thiết bị tối ưu và (2) trong việc thực hiện HTTTKT được hỗ trợ bởi nguồn nhân lực thích hợp với chuyên môn cần thiết; khía cạnh hữu hiệu, đó là (1) dễ dàng trong việc thực hiện HTTTKT và (2) dễ dàng tiếp cận thông tin được tạo ra bởi HTTTKT; và cuối cùng là khía cạnh tích hợp được đo lường bởi (1) có năng lực (kiến thức, kỹ năng hoặc chuyên môn) phù hợp với mức độ của HTTTKT, (2) sử dụng dữ liệu trong cơ sở dữ liệu có liên quan đến các thành phần khác, (3) sử dụng liên kết giữa hoạt động này với các hoạt động khác và tổ chức từng bước thực hiện các quy trình xử lý giao dịch và (4) sử dụng phương tiện điện tử để truyền dữ liệu từ một địa điểm đến một hoặc nhiều vị trí để hình thành một mạng lưới truyền thông dữ liệu. Tác giả Susanto (2017) khái niệm về chất lượng HTTTKT được giới hạn dựa trên khía cạnh về việc sử dụng HTTTKT và sự hài lòng của người dùng giữa thông tin mà HTTTKT cung cấp và thông tin mà họ mong muốn. 13 Tóm lại, chất lượng HTTTKT chính là sự tương tác đồng bộ giữa các thành phần trong quá trình thực hiện các chức năng thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin kế toán đáp ứng các tiêu chuẩn trong quá trình xử lý thông tin cũng như tiêu chuẩn thông tin kế toán và mang lại sự hài lòng cho các đối tượng sử dụng.
Các thang đo về chất lượng HTTTKT của các nghiên cứu được tập hợp trong bảng 2.1 dưới đây: Bảng 2. Tổng hợp thang đo chất lượng HTTTKT Thang đo chất Diễn giải Tác giả lượng HTTTKT Tính tích hợp Có khả năng phối hợp phần cứng, phần (Wixom and Todd, mềm, mạng viễn thông, chất lượng cơ sở 2005) (Ong et al., dữ liệu, chất lượng công việc và sự hài 2009) (Carolina, 2014) lòng của người sử dụng. (Syaifullah, 2014) Đề cập đến cách thức hệ thống cho phép (Susanto, 2015) dữ liệu có thể tích hợp được từ nhiều nguồn khác nhau. Đáng tin cậy Mức độ tin cậy của HTTTKT bị ảnh DeLone and McLean hưởng bởi cách thiết kế và quản lý cơ sở (2003), Wixom and hạ tầng công nghệ thông tin và mức độ Todd (2005), Ong et mà người sử dụng hệ thống có thể cho al.
(2009), Carolina rằng hệ thông sẽ có sẵn cho người dùng (2014), Susanto sử dụng. (2015) 14 Tính linh hoạt Hệ thống được thiết kế hữu ích cho Wixom and Todd, những ai cần nó như là kết quả của sự (2005), Ong et al., phát triển kinh doanh. Susanto (2015) Hiệu quả Sử dụng nguồn lực tối thiểu để đạt kết Stair and Reynolds quả tối ưu (2010), Carolina (2014), Syaifullah (2014) Hữu hiệu Đo lường mức độ hoạt động của hệ Syaifullah (2014) thống so vói mục tiêu Truy cập được Tính truy cập được được hiểu là thông Wixom and Todd tin được truy cập hoặc trích xuất từ hệ (2005), Ong et al., thống dề dàng. (2009), Stair and Reynolds (2010) Nguồn: Tác giả tổng hợp.
Lý thuyết về hệ thống Lý thuyết hệ thống được đề xuất những năm 1940 (Bertalanffy, 1969). Lý thuyết hệ thống mô tả sự tác động qua lại giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và làm cách nào mà sự thay đổi của một bộ phận lại có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác trong doanh nghiệp. Với lý thuyết này, thì toàn bộ doanh nghiệp được coi như một hệ thống cha, các bộ phận/phòng ban trong doanh nghiệp chính là các hệ thống con trong hệ thống cha đó. Sự tương tác trong hệ thống không phải lúc nào cũng là sự tương tác trực tiếp giữa các bộ phận.
Có khi, một sự thay đổi nhỏ của một bộ phận lại gây ra sự thay đổi lớn trong toàn bộ doanh nghiệp, trong khi, có những sự thay đổi lớn trong một bộ phận lại chỉ gây ra sự thay đổi nhỏ với các bộ 15 phận khác. Các doanh nghiệp hoạt động như một hệ thống có tác động với môi trường xung quanh. Chính vì vậy, sự cân bằng trong doanh nghiệp cũng sẽ cần phải thay đổi thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Tóm lại, lý thuyết hệ thống cho rằng thấy HTTTKT là một hệ thống con trong hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp.
Do vậy, khi xem xét đến các biện pháp thay đổi hệ thống cần đặt HTTTKT trong bối cảnh của doanh nghiệp, cân nhắc đến những tác động đến các bộ phận khác. Ngoài ra, khi đề xuất các giải pháp cần có sự tích hợp, thống nhất giữa các hệ thống con để cùng hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp. Lý thuyết hệ thống cũng cung cấp những nền tảng về việc lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT, gồm các yếu tố bên trong doanh nghiệp và yếu tố bên ngoài chính là môi trường kinh doanh. Lý thuyết thông tin hữu ích Quá trình phát triển của lý thuyết kế toán có thể phân chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất là sự dịch chuyển của phương pháp kế toán chuẩn tắc sang phương pháp kế toán thực chúng. Giai đoạn thứ hai được tiếp tục phát triển và có sự dịch chuyển dần sang lý thuyết hữu ích của thông tin kế toán. Lý thuyết thông tin hữu ích ra đời vào những năm 1960 đã mở đầu giai đoạn định hướng vào việc sử dụng thông tin kế toán hữu ích để phục vụ ra quyết định phù hợp. Lý thuyết này được xem là lý thuyết nền tảng để xây dựng các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Vào năm 1973, lý thuyết này được xem xét một cách rộng rãi tại Mỹ với mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích đề ra quyết định. Mặt khác, lý thuyết này hướng đến tính hữu ích thông tin cho người sử dụng hơn là đáp ứng theo yêu cầu của luật pháp.