CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về chất lượng hệ thống thông tin kế toán Các vấn đề liên quan đến hệ thống thông tin kế toán được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện thông qua nhiều công trình nghiên cứu. Khái quát về các nghiên cứu liên quan đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán như sau: Nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá chất lượng HTTTKT: Các tác giả Sajady, Dastgir, và Nejad (2008) có nghiên cứu “Evaluation of the effectiveness of accounting information systems” tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran về đánh giá chất lượng của hệ thống thông tin kế toán, khảo sát thu thập ngẫu nhiên 87 phiếu với đối tượng khảo sát là giám đốc tài chính của các công ty niêm yết. Nghiên cứu đưa ra mô hình để đánh giá chất lượng của HTTTKT thông qua tác động của HTTTKT.
Tác động của HTTTKT đến doanh nghiệp được đo lường thông qua việc cải thiện quá trình ra quyết định kinh doanh, cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, cải thiện chất lượng của các báo cáo tài chính, cải thiện quy trình nghiệp vụ trong các công ty và cải tiến quá trình đánh giá hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho cho thấy việc tổ chức thực hiện HTTTKT sẽ giúp cho cải thiện quá trình ra quyết định kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội bộ, và chất lượng của các báo cáo tài chính cũng như làm cho các nghiệp vụ trong các công ty được thuận lợi hơn, trong khi đó, nghiên cứu không thấy ảnh hưởng của HTTTKT trong việc cải tiến quá trình đánh giá hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu của các tác giả này đã đóng góp về mặt lý luận khi cung cấp cách tiếp cận đánh giá chất lượng hệ thống thông tin kế toán dựa trên tiêu chí về tác động của HTTTKT, và đóng góp về mặt thực tiễn về chất lượng HTTTKT của các doanh nghiệp niêm yết tại Tehran. Với cách tiếp cận tương tự như nhóm tác giả Sajady và ctg.
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân tích thống kê mô tả dùng t-test với 63 nhân viên kế toán và giám đốc tài chính tại các doanh nghiệp sử dụng ERP đã khẳng định tác động của ERP đến việc cải thiện chất lượng đầu ra và chất lượng kiểm soát nội bộ của HTTTKT. Tuy nhiên, nghiên cứu áp dụng trong bối cảnh ERP này phù hợp với các doanh nghiệp quy mô lớn và sự trang bị công nghệ cao, bởi để trang bị hệ thống ERP đòi hỏi nhiều nguồn lực của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này cũng đã có những đóng góp về mặt lý luận trong đo lường chất lượng HTTTKT. Tại Việt Nam, một số tác giả cũng đo lường chất lượng HTTTKT thông qua đánh giá tác động của HTTTKT.
Nghiên cứu của 2 tác giả Lê Ngọc Mỹ Hằng và Hoàng Giang (2012) mang tên “Development of a model for evaluating the effectiveness of Accounting information systems in Co-operatives in Thua Thien Hue provice” đã đánh giá chất lượng của HTTTKT từ 138 phiếu khảo sát tại các hợp tác xã tại Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu đã đo lường và khẳng định tác động của HTTTKT đến doanh nghiệp qua việc cải thiện quá trình ra quyết định, kiểm soát nội bộ, đánh giá thành quả, chất lượng báo cáo tài chính, sự hài lòng của người dùng. Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy tiêu chí về tác động của HTTTKT là một tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Có thể thấy, cách tiếp cận đo lường chất lượng HTTTKT của các tác giả này dựa trên những lợi ích của HTTTKT, thông qua đánh giá các tác động của HTTTKT đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp (Sajady và ctg.
Tuy nhiên, hạn chế của việc thước đo này là chưa xem xét toàn diện các vấn đề của chất lượng HTTTKT như chất lượng của quá trình xử lý của hệ thống, chất lượng đầu ra của HTTTKT. Để khắc phục những hạn chế trong đánh giá chất lượng HTTTKT, các nghiên cứu trong các năm gần đây có xu hướng sử dụng kết hợp nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu sử dụng kết hợp đa tiêu chí khi đo lường chất lượng HTTTKT. Cụ thể: Tác giả Nicolaou (2000) trong nghiên cứu “A contigency model of perceived effectiveness in accounting information system: Organizational coordination and luan an 10 control effects” đã tìm hiểu các biến ngẫu nhiên ảnh hưởng đến thiết kế HTTTKT và chất lượng của HTTTKT đã sử dụng 2 tiêu chí gồm thước đo cảm nhận về sự hài lòng về thông tin của người dùng và cảm nhận về hiệu quả giám sát của hệ thống thông tin.
Có thể thấy, các tiêu chí mà nghiên cứu này đưa ra dựa sự hài lòng của người dùng nhưng lại chỉ chú ý đến sự hài lòng về thông tin và hiệu quả giám sát của hệ thống thông tin kế toán, trong khi không đề cập đến sự hài lòng về chất lượng hệ thống, tiêu chí phản ánh chính sự hoạt động của hệ thống đó như thế nào. Một cách tiếp cận khác, tác giả Fardinal (2013) trong nghiên cứu “The quality of accounting information and the accounting information system through the internal control systems: A study in ministry and state agencies of the Republic of Indonesia” đã thực hiện đo lường chất lượng HTTTKT dựa trên mô hình TAM với 3 tiêu chí gồm cảm nhận tính dễ sử dụng, cảm nhận tính hữu dụng và cách sử dụng. Hay nghiên cứu của 2 tác giả Fitriati và Mulyani (2015) mang tên “Factors that affect Accounting Information System Success and its Implication on Accounting Information Quality” nghiên cứu các đối tượng kế toán viên làm việc tại Indonesia về các nhân tố tác động đến chất lượng HTTTKT và chất lượng thông tin kế toán cũng sử dụng các tiêu chí về tính dễ sử dụng, tính hữu dụng và cách sử dụng để đo lường chất lượng HTTTKT. Có thể nói, những tiêu chí trong các nghiên cứu này lại hướng đến sự đáp ứng yêu cầu của người dùng về mặt kỹ thuật, các tiêu chí như tính dễ sử dụng, cách sử dụng phản ánh tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật trong quá trình xử lý thông tin nhiều hơn, chưa phản ánh được chất lượng thông tin đầu ra của hệ thống thông tin kế toán.
Trong khi đó, tác giả Susanto (2017) trong nghiên cứu “how the quality of accounting information system impact on accounting information quality” đã sử dụng kết hợp cả tiêu chí phản ánh đặc điểm kỹ thuật cũng như sự hài lòng của người dùng. Cụ thể nghiên cứu đo lường chất lượng của HTTTKT thông qua sự hài lòng của người dùng và cách sử dụng. Nghiên cứu đo lường tác động của chất lượng HTTTKT đến chất lượng thông tin. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định ảnh hưởng của chất lượng HTTTKT đến chất lượng thông tin kế toán, kết quả này củng cố kết quả của nhóm tác giả Gorla, Somers, và Wong (2010) về tác động của chất lượng hệ thống luan an 11 đến chất lượng thông tin.
Cách tiếp cận của các nghiên cứu này tập trung đo lường chất lượng HTTTTKT dựa trên phương diện kỹ thuật và sự hài lòng của người dùng. Tiêu chí về chất lượng thông tin được tách riêng khỏi chất lượng HTTTKT trong khi đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng chất lượng thông tin cũng là một tiêu chí đo lường chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Nhận thấy sự toàn diện khi sử dụng nhiều tiêu chí khi đánh giá chất lượng HTTTKT, tác giả Chalu (2012) trong nghiên cứu “analysis of stakeholder factors influencing the effectiveness of accounting information systems in Tanzania's Local Authorities” đã tổng quan một cách có hệ thống về đo lường chất lượng HTTTKT. Nghiên cứu khẳng định rằng chất lượng HTTTKT là thang đo đa chiều vì HTTTKT là hệ thống con của hệ thống thông tin quản lý (MIS) và kế toán nên có nhiều cách tiếp cận.
Do vậy, nghiên cứu đã thực hiện đo lường chất lượng HTTTKT bởi 4 khía tiêu chí gồm: thành quả của doanh nghiệp, sự hài lòng của người dùng, chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin kế toán. Nội dung chính của nghiên cứu này là tác động của yếu tố về các bên liên quan đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Tuy nhiên, việc đo lường chất lượng hệ thống thông tin kế toán bởi thang đo đa chiều của tác giả cho thấy xu hướng và lợi ích của sử dụng thang đo đa chiều sẽ giúp phản ảnh đa diện và chính xác hơn về chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Tại Việt Nam, nghiên cứu của 2 tác giả Huỳnh Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Mạnh Toàn (2013) mang tên “đánh giá hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán” đã đề xuất sử dụng đa tiêu chí trong đánh giá chất lượng HTTTKT.
Các tác giả đã thực hiện đo lường chất lượng HTTTKT theo cách tiếp cận mô hình hệ thống thông tin thành công, đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả của HTTTKT theo mức độ hài lòng của người sử dụng kết hợp 4 tiêu chí chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, tính hữu dụng và sự hài lòng của người dùng. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở lý thuyết trong việc đề xuất mô hình mà chưa có các bằng chứng thực nghiệm để kiểm chứng mô hình nghiên cứu. Chính vì vậy, đây cũng là một cách tiếp cận cần có các nghiên cứu sau để phát triển ý tưởng nghiên cứu và thu thập các bằng chứng thực luan an 12 nghiệm để kiểm chứng xem các yếu tố nào là phù hợp trong đánh giá chất lượng HTTTKT. Nghiên cứu đặc điểm về bối cảnh nghiên cứu chất lượng HTTTKT Chất lượng HTTTKT đã được các tác giả nghiên cứu ở các nước phát triển như Mỹ trong nghiên cứu của Nicolaou (2000), và đa số là các nước đang phát triển như Iran (Sajady và ctg.
Điều này cho thấy, ở các nước đang phát triển, chất lượng HTTTKT là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Nghiên cứu về chất lượng HTTTKT cũng được thực hiện trong các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, đặc điểm về lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Yếu tố về đặc điểm quy mô cũng dẫn sự lựa chọn các tiêu chí đo lường chất lượng HTTTKT có điểm khác nhau hay các đối tượng liên quan đến chất lượng HTTTKT là khác nhau. Ví dụ như, các doanh nghiệp niêm yết hay các doanh nghiệp lớn hoạt động trong khu công nghiệp thì có bộ phận tài chính riêng biệt, có bộ phận CNTT riêng biệt.
Chính vì vậy, các nghiên cứu về chất lượng HTTTKT trong các doanh nghiệp lớn, ngoài giám đốc và bộ phận kế toán, cần phải khảo sát các đánh giá của giám đốc tài chính hay bộ phận CNTT (Alzoubi, 2011; Nicolaou, 2000; Sajady và ctg.