CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Dé có thé thay được tam quan trọng của CLTTKT cũng như tông quan các nghiên cứu trước đó về CLTTKT, về mối quan hệ giữa quản trị công ty và CLTTKT cả trong và ngoài nước, tác giả tiễn hành hệ thống hóa các nghiên cứu liên quan thành hai nhóm sau: (1) Nghiên cứu về CLTTKT và (2) Nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty tới CLTTKT. Nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán Thực hiện nghiên cứu CLTTKT dưới góc độ chất lượng lợi nhuận giữa các công ty có quan hệ với giới chính trị và các công ty không có quan hệ chính trị, Chaney và các cộng sự (2011) lựa chọn đo lường các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals) dựa theo nghiên cứu của Ashbaugh và các cộng sự (2003) trong đó có kế đến yếu tố lạm phát và tong sản phẩm quốc nội (GDP) của từng quốc gia. Kết quả nghiên cứu trên mẫu 19 quốc gia khác nhau chỉ ra rằng chất lượng lợi nhuận của các DN có liên quan tới chính trị kém hơn các DN không có bat kỳ mối liên hệ chính trị nào.
Fathi (2013) thực hiện nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết tại Pháp đã xác định 4 nhân tố ảnh hưởng gồm: (1) đặc điểm tai chính doanh nghiệp (đòn bây, lợi nhuận, tình trạng niêm yết); (2) đặc điểm của hội đồng quản trỊ; (3) chất lượng kiểm toán nội bộ và (4) cơ cấu sở hữu. Kết quả là các nhân tố trên đều có tác động tích cực, duy chỉ có cơ cấu sở hữu có tác động ngược chiều đến CLTTKT trên BCTC. Một nghiên cứu khác của Callen và cộng sự năm 2013 cho ta thấy thêm mối liên quan giữa CLTTKT và sự trễ giá cổ phiếu. Chất lượng kế toán thấp thường được cho là có liên quan với sự không chắc chắn về các thông số định giá cổ.
Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết răng thông tin kế toán kém chất lượng làm giảm khả năng dự đoán dòng tiền của DN, khiến khả năng dự đoán giá trở nên không chắc chắn. Điều này buộc các nhà đầu tư phải liên tục đánh giá lại giá trị của cô phiếu thông qua việc cập nhật thông tin va học hỏi từ các nhà đầu tư khác, đây gọi là sự trễ trong việc điều chỉnh giá. Băng cách sử dụng thước đo sự trễ giá cô phiếu dựa trên mô hình hồi quy của Hou và Moskowitz (2005), đo lường CLTTKT băng chất lượng các khoản dén tích dựa trên mô hình đánh giá các khoản dồn tích của Francis (2005), kết quả nghiên cứu tìm thấy mối tương quan nghịch giữa CLTTKT và sự trễ giá cô phiếu, tức là CLTTKT được công bố thấp giúp DN thu được lợi nhuận cao hơn 7.7% so với các DN có sự trễ giá cổ phiếu không liên quan đến CLTTKT. Cũng đánh giá cao tính trung thực của thông tin thông qua sự chênh lệch về số liệu kế toán trước và sau kiểm toán, tác giả Nguyễn Thị Hải Hà (2014) đã phân tích thực trạng chat lượng công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và cho thấy, sự chênh lệch về số liệu lợi nhuận có xu hướng tăng trong giai đoạn 2010 - 2013.
Hầu hết các công ty niêm yết có sự giảm lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán, thậm chí có trường hợp đang từ lãi thành lỗ. Một số nguyên nhân dẫn đến các sai phạm về công bố thông tin cũng đã được tác giả đưa ra gồm khung pháp lý chưa hoàn thiện, cơ quan quản lý chưa có biện pháp chế tài phù hợp và xuất phát từ bản thân các công ty niêm yết. Nghiên cứu tìm hiểu về CLTTKT được trình bày trên BCTC của các DN niêm yết trên sản giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và khám phá các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến CLTTKT, Cao Nguyễn Lệ Thư (2014) đã kế thừa bảng thuyết minh gồm 78 khoản mục theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 119 BCTC năm 2013 đã kiểm toán của các DN thuộc các nhóm ngành xây dựng, công nghệ chế biến và chế tạo được đưa vào xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.
Mô hình hồi quy tuyến tính bội gồm biến phụ thuộc là CLTTKT và 11 biến độc lập: quy mô DN, thời gian hoạt động của DN, cấu trúc vốn Nhà nước, sự tách biệt chức danh Chủ tịch HĐQT va CEO, tỷ lệ thành viên HDQT không điều hành, quy mô HDQT, khả năng sinh lời, sự tồn tại của Ban kiểm soát, đòn bây tài chính, khả năng thanh toán hiện hành và tài sản cố định. Theo kết quả nghiên cứu, CLTTKT của các DN niêm yết đồng biến với quy mô DN, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và nghịch biến với tỷ lệ sở hữu cỗ phan của Nhà nước. Tác giả Phan Minh Nguyệt (2014) lựa chọn tông hợp lại các đặc tính CLTTKT theo các quan điểm và lựa chọn đặc tính chất lượng kế toán của IASB để làm cơ sở nghiên cứu gồm: thích hợp, có thé hiểu được, có thé so sánh được, đáng tin cậy, chi phi và lợi ich khi lập BCTC. Thu thập đữ liệu sơ cấp thông qua bang hỏi khảo sat 200 đối tượng làm việc ở nhiều ngành nghé: kế toán, kiểm toán, kinh doanh và sử dung phương pháp định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 16.0 dé thực hiện kiểm định mô hình hồi quy, kiểm định thang do bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phan 10 tích EFA.
Kết quả nghiên cứu của tác giả chứng minh rằng có 5 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới CLTTKT là: rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập và trình bay BCTC, thuế, lợi ích và chi phí. Nghiên cứu về phương pháp đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, tác giả Đoàn Thị Hồng Nhung và Vũ Thị Kim Lan (2015) quan điểm việc tiến hành đánh giá CLTTKT trên BCTC theo ba bước như sau: (1) lựa chọn BCTC để phân tích, (2) kiểm tra tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên BCTC, (3) đánh giá chất lượng tài sản và nguồn vốn trên BCTC. Do công tác thẩm định và đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC trước khi đưa ra quyết định kinh tế là rất quan trọng đối với người sử dụng. Sau khi thực hiện thâm định các khoản mục trên BCTC, người sử dụng cần thực hiện các điều chỉnh cần thiết dé các số liệu trên BCTC sử dụng trong phân tích sẽ dam bao độ tin cậy.
Trong giới hạn của một bài viết trao đôi và mang tinh chat tong quát, hai tác giả chỉ nêu các hướng dẫn khi cần đánh giá CLTTKT còn về phương pháp cụ thé dé đánh giá các chỉ tiêu trên tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng thông tin và các BCTC cụ thé được chọn. Abdullah, Almsafir và Al-Smadi (2015) đã tìm ra mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán, quản trị công ty, kiểm soát bên ngoài và tiêu chuẩn đạo đức với CLTTKT trên BCTC dựa theo quan điểm của kiểm toán viên và quản lý ở Malaysia. Kết quả cho thấy các nhân tố đều ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC và chuẩn mực kế toán có mức ảnh hưởng cao nhất. Nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2018) về tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp đến chất lượng thông tin BCTC trong các doanh nghiệp tại Việt Nam đã xác định và đánh giá chất lượng thông tin BCTC, với trường hợp cụ thé là tính thích đáng của thông tin theo quan điểm của Hội đồng tiêu chuẩn tài chính Hoa Kỳ FASB và Uy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IASB.
Dữ liệu của nghiên cứu thu thập từ 180 doanh nghiệp, chủ yếu là tại thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra được kết luận rằng, tính thích đáng của thông tin trên BCTC bị tác động bởi năm yếu tố bao gồm: hành vi quản trị lợi nhuận, sự hỗ trợ từ phía nhà quản trị, việc đào tạo và bồi dưỡng, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực nhân viên kế toán. Tác giả cũng đưa ra đề xuất đến các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của quản tri lợi nhuận thông qua cơ chế giám sát cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, đồng thời thường 11 xuyên cập nhật quy định, chính sách kế toán và nâng cao chất lượng nguôn nhân lực dé từ đó nâng cao được chất lượng thông tin trên BCTC doanh nghiệp Nghiên cứu của Dewi và các cộng sự (2019) về những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC và trách nhiệm giải trình tài chính của chính quyền địa phương đã thực hiện khảo sát và thu thập thông tin từ 161 trên 303 nhân viên thuộc chính quyền tại Nam Sumatra, Indonesia. Kết quả sau khi xử lý dữ liệu thu được đã khẳng định sự ảnh hưởng tích cực của các yếu tố thuộc hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực của nhân sự đến chất lượng thông tin trên BCTC của cơ quan chính quyền địa phương và gián tiếp ảnh hưởng tích cực đến trách nhiệm giải trình tài chính. Nghiên cứu của Lê Hoàng Vân Trang và các tác giả (2020) về các nhân tô ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra giả thuyết với bảy nhân tố ảnh hưởng, bao gồm: Tài khoản kế toán, chứng từ kế toán, số sách kế toán, bộ máy kế toán, nhà quản lý, mục tiêu lập BCTC và thuế.
Kết quả sau khi phân tích dữ liệu từ 261 phiếu khảo sát trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thu được rằng chỉ có bốn nhân tố tác động cùng chiều đến CLTTKT trên BCTC là chứng từ kế toán, bộ máy kế toán, thuế và nhà quản lý; trong đó, bộ máy kế toán là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Nghiên cứu cũng đã đưa ra các đề xuất, góp ý dé cải thiện bộ máy kế toán của doanh nghiệp, nâng cao mức độ hiểu biết của nhà quản trị doanh nghiệp về lĩnh vực kế toán dé có thé thích ứng với những sự thay đổi trong chính sách thuế tại Việt Nam, từ đó nâng cao CLTTKT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết. Cũng nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC, Bawono và các cộng sự (2021) đã đặt ra giả thuyết rang có ba nhân tô chính ảnh hưởng tới chất lượng thông tin trên BCTC gồm: (1) năng lực của hệ thống nhân lực, (2) kiểm soát nội bộ và (3) hệ thống thông tin kế toán.