chương 1 đã nêu được về tổng quan các nghiên cứu trước đây có liên quan đến mức độ ảnh hưởng của thận trọng kế toán đến giá trị thích hợp thông tin trên BCTC ở phạm vi thế giới và Việt Nam. Trên thực tế đề tài nghiên cứu về xem xét ảnh hưởng của thận trọng kế toán đến giá trị thích hợp của thông tin là một vấn đề được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu với những quan điểm không đồng nhất. Có nghiên cứu cho rằng, mức độ thận trọng kế toán tăng lên đã bóp méo giá trị thích hợp thông tin. Và ngược lại, nhiều quan điểm phát biểu không có mối quan hệ tuyến tính giữa thận trọng kế toán và giá trị thích hợp thông tin, hay sự tăng lên của thận trọng kế toán không liên quan đến sự sụt giảm của giá trị thông tin.
Quay trở lại Việt Nam, các nghiên cứu lại quan tâm đến góc nhìn về giá trị thích hợp thông tin kế toán đến giá cổ phiếu. Dựa trên lập luận Việt Nam là một quốc gia theo hướng điển luật và hạch toán kế toán chịu sự ảnh hưởng nặng nề của pháp luật thuế cho phép tác giả xây dựng các giả thuyết nhằm kiểm định về sự tồn tại của thận trọng kế toán trong mẫu nghiên cứu và xác định ảnh hưởng của nó đến giá trị thích hợp thông tin đối với các công ty thuộc loại hình DNNVV trên địa bàn TP.HCM tại Việt nam giai đoạn 2014-2018. Ở chương tiếp theo, tác giả tiếp tục trình bày cụ thể về cơ sở lý thuyết được sử dụng trong luận văn. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Các khái niệm có liên quan 2. Giá trị thích hợp thông tin kế toán trên BCTC 2. Định nghĩa Theo khuôn mẫu kế toán thì thích hợp (relevant) là một trong hai đặc điểm cơ bản về chất lượng của thông tin hữu ích trên BCTC, nó bao gồm tính thích hợp và tính trình bày hợp lý của thông tin BCTC xét về bản chất. Ngoài ra, thông tin hữu ích trên BCTC còn thể hiện ở bốn nhận diện khác là: (i) có thể so sánh; (ii) Có thể kiểm chứng; (iii) tính kịp thời và (iv) dễ hiểu.
Vì BCTC mang thông tin kế toán – tài chính của doanh nghiệp, với mục đích chính là cho phép các bên liên quan đưa ra quyết định đầu tư. Theo Omokhudu và Ibadin (2015), báo cáo tài chính chứa thông tin tài chính doanh nghiệp hỗ trợ cung cấp thông tin trong việc ra quyết định đầu tư. Do đó, điều này đặt ra sự bắt buộc phải đảm bảo độ tin cậy về nội dung thông tin. Độ tin cậy của báo cáo tài chính dựa trên giá trị liên quan của thông tin kế toán.
Tuy nhiên, theo Francis và Schipper (1999), khả năng nắm bắt thông tin báo cáo tài chính hoặc tóm tắt thông tin ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp chính là việc xác định mức độ phù hợp về giá trị thông tin. Nhưng khi, các con số kế toán mất đi sự liên quan đến giá trị của nó chính là khi có các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài, đặc biệt vào thời điểm bất ổn tài chính như khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong điều kiện thị trường có nhiều biến động và không thể dự đoán trước số liệu tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ khó khăn về tài chính, thì việc xem xét liệu rằng báo cáo tài chính có giữ được giá trị của nó trong mối quan với một cuộc khủng hoảng tài chính hay không là điều cần thiết. Nhiều nghiên cứu tập trung vào tác động của cuộc khủng hoảng 2008 đối với Hoa Kỳ, các nước láng giềng và Trung Đông (Beltratti, Spear, & Szabo, 2013; Devalle, 2012; Tahat & Alhadab, 2017) và tác động của năm 1997 khủng hoảng tài chính châu Á đến các khu vực ở Đông Á, các nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cuộc suy thoái lớn năm 2008 đến các nước Đông Á đã chỉ ra rằng việc thanh lý hoặc trải qua sáp nhập và mua lại trong một cuộc khủng hoảng tài chính đã diễn ra ở hàng ngàn công ty.
Và các công ty đã có những tác động nhằm giảm thiểu mức độ liên quan 14 của giá trị thích hợp thông tin kế toán để có thể đứng được trong giai đoạn khủng hoảng tài chính (Tahat & Alhadab, 2017). Mối quan hệ này đã làm dấy lên mối quan tâm về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC) cùng với khả năng phục hồi của Châu Á có thể ảnh hưởng đến mức độ phù hợp của thông tin. Các mô hình đo lường giá trị thích hợp thông tin trên BCTC Trong phần này, tác giả liệt kê một số mô hình đo lường giá trị thích hợp của thông tin kế toán đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới phát triển. Với lập luận được giải thích trong chương 3 về phương pháp nghiên cứu khi đề tài nghiên cứu thực nghiệm ở phạm vi DNNVV, nhằm giúp đề tài tiếp cận với các nghiên cứu ở góc nhìn giá cổ phiếu được điều chỉnh theo giá trị thị trường của vốn chủ giúp cho nghiên cứu của tác giả tiệm cận gần hơn với khung pháp lý của đề tài.
Mô hình giá của Ohlson (1995) (price value relevance) Thông tin kế toán và giá trị thị trường của doanh nghiệp có mối quan hệ hay không là câu hỏi được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nghiên cứu của Ohlson (1995) được xem là nghiên cứu nền tảng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết để giải thích cho mối quan hệ giữa các loại thông tin kế toán và giá trị thị trường của doanh nghiệp. Mô hình của Ohlson (1995) được phát triển dựa trên mô hình lợi nhuận thặng dư (Residual income model – RIM) do Preinreich (1938) đề xuất. Theo mô hình lợi nhuận thặng dư này, giá trị thị trường của doanh nghiệp bao gồm: giá trị sổ sách và tổng giá trị hiện tại của các dòng lợi nhuận thặng dư tương lai của công ty.
Sau đó, Ohlson đã lập một giả thiết quan trọng liên quan đến chuỗi thời gian của dòng lợi nhuận thặng dư, rằng cấu trúc chuỗi thời gian của dòng lợi nhuận thặng dư phải tuyến tính và cố định. Việc kết hợp như trên do Ohlson (1995) đề xuất đã cho phép Ohlson rút ra được mô hình thể hiện mối quan hệ giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và các thông tin kế toán trên báo cáo của doanh nghiệp. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán được đo lường bằng hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình hồi quy, được tác giả biểu diễn như sau: Pit = β0 + β1BVit + β2EPSit + εit Trong đó: 15 Pit = giá trị thị trường của một đơn vị vốn chủ công ty i 3 tháng sau khi kết thúc niên độ tài chính năm t. BVit = giá trị sổ sách của của một đơn vị vốn chủ công ty i năm t EPSit = lợi nhuận trên một đơn vị vốn chủ công ty i năm t Theo mô hình này, mối quan hệ giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và hai thông tin kế toán trên báo cáo tài chính là: một là lợi nhuận, hai là giá trị sổ sách, chỉ hiệu quả khi giá trị thị trường phản ánh chính xác giá trị thực của nó.
Ngoài ra, giá trị thị trường của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các thông tin khác chưa hoặc không được phản ánh trong báo cáo tài chính vào thời điểm đó. Mô hình tỷ suất sinh lợi của Easton & Harris (1991) (return value relevance) Để xem xét tỉ lệ giữa mức thu nhập chia cho giá trị thị trường của doanh nghiệp có phù hợp để xem xét làm nền tảng cho các quyết định của nhà đầu tư hay không, Easton và Harris (1991) đã sử dụng mô hình định giá giá trị sổ sách dựa trên ý tưởng cho rằng giá trị sổ sách và giá trị thị trường là cả hai biến số đều cho thấy mức độ an toàn cao của vốn chủ sở hữu. Các biến liên quan lần lượt là tỷ lệ giữa thu nhập và giá trị thị trường của doanh thu và lợi nhuận thị trường (Rjt) (Easton và Harris, 1991). Cho dù các mô hình định giá do Easton và Harris (1991) nghiên cứu đã chỉ ra mức độ phù hợp tiềm năng giữa mức thu nhập hiện tại và giá trị thị trường của doanh nghiệp, nhưng chúng không loại trừ mức độ liên quan của thay đổi trong thu nhập chia cho giá trị thị trường của doanh nghiệp đó.Vì vậy, họ cũng đã xem xét và kiểm tra mức độ liên quan của thay đổi trong biến thu nhập (A/Pt-1) trong việc giải thích lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi mục tiêu chính của nghiên cứu thực nghiệm của họ là đánh giá mức độ phù hợp của biến số mức thu nhập (At/ Pt1)Ở phương diện lý thuyết, Easton và Harris (1991) đã phát triển và kiểm tra thực nghiệm ba mô hình định giá chính thức khác nhau: mô hình mức độ, mô hình thay đổi và mô hình bao gồm sự kết hợp của cả hai quan điểm định giá trước đó và sử dụng phương pháp hồi quy để phát hiện mối liên hệ giữa thu nhập và lợi nhuận.
Giá trị thích hợp của thông tin kế toán được đo lường bằng hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình hồi quy. Mô hình được xây dựng bởi Easton & Harris (1991) và được biểu diễn như sau: 16 Retit = β0 + β1 + β2 + εit Trong đó: Retit = lợi nhuận của vốn chủ công ty i năm t (stock return) EPSit = lợi nhuận trên đơn vị vốn chủ công ty i năm t EPSit = chênh lệch lợi nhuận trên đơn vị vốn chủ công ty i năm t so với năm t-1 Pi,t-1 = giá trị thị trường của đơn vị vốn chủ công ty i năm t-1 2. Thận trọng kế toán 2. Định nghĩa Thận trọng kế toán được mô tả là “sự dự đoán không bao gồm các khoản có lợi cho doanh nghiệp, nhưng bao gồm tất cả các khoản lỗ và rủi ro có thể xảy ra” (Bliss 1924).
Ceteris paribus đã cho thấy “các tin tức xấu về Google 199 được phát hiện ra nhanh chóng hơn các tin tức tốt trong báo cáo thu nhập của họ”. Trong một bài báo khác, để kiểm tra giả thuyết về tính kịp thời không đối xứng này bằng cách hồi quy thu nhập hàng năm trên lợi nhuận tại thời điểm đương thời bằng cách sử dụng lợi nhuận chứng khoán hàng năm dương (âm) làm đại diện cho tin tức tốt (xấu). Basu (1997) đã nhận thấy rằng độ nhạy của thu nhập đối với lợi nhuận âm cao hơn đáng kể so với lợi nhuận dương.