Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác lập và phân tích Bảng cân đối kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương 2: Thực trạng công tác lập và phân tích Bảng cân đối kế toán tại Công ty TNHH Máy tính Việt Nhật. Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác lập và phân tích Sinh viên: Lương Việt Liên – Lớp QT1501K 1 Haiphong University Khóa luận tốt nghiệp Bảng cân đối kế toán tại Công ty TNHH Máy tính Việt Nhật. Bài khóa luận của em nhận được sự hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của giảng viên hướng dẫn ThS.
Hòa Thị Thanh Hƣơng cùng sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo và các anh chị phòng Kế toán – Tài chính tại Công ty TNHH Máy tính Việt Nhật. Tuy nhiên, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hải phòng, ngày 05 tháng 07 năm 2015 Sinh viên Lương Việt Liên Sinh viên: Lương Việt Liên – Lớp QT1501K 2 Haiphong University Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1: Một số vấn đề chung về hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: 1.1: Báo cáo tài chính và sự cần thiết của báo cáo tài chính trong công tác quản lý kinh tế: 1.1: Khái niệm báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính (BCTC) là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, là nguồn cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và nhu cầu của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế của mình.
Theo quy định hiện nay thì hệ thống Báo cáo tài chính doanh nghiệp của Việt Nam bao gồm 4 loại sau: - Bảng cân đối kế toán. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. - Bản thuyết minh báo cáo tài chính 1.2: Sự cần thiết của báo cáo tài chính trong công tác quản lý kinh tế: Căn cứ vào các thông tin đáng tin cậy trên BCTC, các nhà quản trị có thể thấy được các điều kiện hiện tại, những dự đoán về tương lai và dựa trên những thông tin liên quan đến quá khứ và kết quả kinh doanh được cung cấp trên BCTC của doanh nghiệp các nhà quản trị có thể đưa ra được các quyết định kinh doanh chính xác cho tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh hiện tại cũng như các kỳ kinh doanh trong tương lai.
Đối với bản thân doanh nghiệp, nếu không thiết lập hệ thống BCTC thì khi phân tích tình hình tài chính kế toán hoặc tình hình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, các nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng… sẽ không có cơ sở để biết tình hình tài chính của doanh nghiệp cho nên họ sẽ khó có thể đưa ra các quyết định hợp tác kinh doanh và nếu có thì các quyết định sẽ có mức độ rủi ro cao và không chắc chắn về lợi nhuận mang lại cho việc đầu tư. Đối với nhà nước, khi không có hệ thống BCTC nhà nước sẽ không thể quản lý được hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các ngành, Sinh viên: Lương Việt Liên – Lớp QT1501K 3 Haiphong University Khóa luận tốt nghiệp các thành phần kinh tế. hoặc công việc quản lý rất khó khăn, tốn kém và độ chính xác không cao do mỗi chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bao gồm rất nhiều các nghiệp vụ kinh tế và có rất nhiều các hóa đơn, chứng từ.
Chính vì vậy, dựa vào hệ thống BCTC nhà nước có thể quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách dễ dàng và chính xác hơn nhất là khi nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, hệ thống Báo cáo tài chính là rất cần thiết đối với mỗi nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.2: Mục đích và vai trò của Báo cáo tài chính: 1.1: Mục đích của Báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp.Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin chính xác đáng tin cậy về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, cho các đối tượng quan tâm để đưa ra các quyết định đúng đắn. Cụ thể, mục đích của BCTC là: - Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm tài chính. - Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong năm tài chính đã qua và những dự đoán trong tương lai.
Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra những quyết định về quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước.2: Vai trò của Báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, phụ thuộc vào mục đích mà mỗi đối tượng lại có một sự quantâm khác nhau tới cáo tài chính của doanh nghiệp, song nhìn chung đều nhằm có được những thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của mình. - Với nhà quản lý doanh nghiệp: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả kinh doanh sau một kỳ hoạt động của doanh nghiệp từ đó các nhà quản lý sẽ Sinh viên: Lương Việt Liên – Lớp QT1501K 4 Haiphong University Khóa luận tốt nghiệp phân tích đánh giá và đề ra được các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. - Với các cơ quan hữu quan của nhà nước như tài chính, ngân hàng kiểm toán, thuế.: + BCTC là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tế tài chính của DN.
+ Là căn cứ, cơ sở để tính thuế và các khoản phải nộp nhà nước, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Ngân sách của nhà nước (NSNN). - Với các nhà đầu tư, các nhà cho vay: Báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng về tài chính, tình hình sử dụng các loại tài sản, nguồn vốn, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro. của doanh nghiệp để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định phù hợp. - Với nhà cung cấp: Báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán, phương thức thanh toán, để từ đó họ quyết định bán hàng cho doanh nghiệp nữa hay thôi, hoặc cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý.
- Với khách hàng: Báo cáo tài chính giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của DN, chính sách đãi ngộ khách hàng. để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của DN. - Với cổ đông, công nhân viên: Họ quan tâm đến thông tin về khả năng cũng như chính sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích của họ thể hiện trên báo cáo tài chính.3: Đối tượng áp dụng: "Chế độ kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa” áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã. Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa không áp dụng cho Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên, công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, hợp tác xã nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng.
Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực đặc thù như: Điện lực, dầu khí, bảo hiểm, chứng khoán. được áp dụng chế độ kế toán đặc thù do Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận cho ngành ban hành. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con thực hiện chế độ kế toán theo quy định của công ty mẹ. Sinh viên: Lương Việt Liên – Lớp QT1501K 5 Haiphong University Khóa luận tốt nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng chế độ kế toán này nếu có nhu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.4: Yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính: Tại chuẩn mực kế toán số 21 – “Trình bày Báo cáo tài chính”, việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ theo các yêu cầu quy định, bao gồm: BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành.
Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp các thông tin đáng tin cậy, khi: Trình bày trung thực, tuân thủ tình hình tài chính, tính hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và các sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng. Trình bày khách quan, không thiên vị. Tuân thủ nguyên tắc thận trọng.