phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Bàn luận kết quả và kiến nghị e 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Mục tiêu của chƣơng này là trình bày các khái niệm liên quan đến CLTTKT trên BCTC, tổng quan các cơ sở lý thuyết đƣợc sử dụng để biện giải mối quan hệ của các nhân tố đến CLTTKT trên BCTC. Từ đó làm rõ quan điểm về CLTT trên BCTC, tạo tiền đề cho việc xây dựng thang đo nhằm đo lƣờng CLTT trên BCTC. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa và các nhân tố bên trong doanh nghiệp 1.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngày nay, cụm từ DNNVV đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới và cả ở Việt Nam. Khi nhắc đến DNNVV vô hình chung các quốc gia thƣờng xem xét doanh nghiệp dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Nhìn chung, các quốc gia chƣa có một khái niệm mang tính chuẩn mực cho việc xác định thế nào là DNNVV. Điểm khác biệt cơ bản giữa các quốc gia về khái niệm này chủ yếu dựa trên việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và việc lƣợng hóa các tiêu chí đó thông qua các chỉ tiêu cụ thể.
Tuy nhiên, trên thực tế tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ mà mỗi quốc gia có thể sử dụng các tiêu chí cụ thể hoặc kết hợp các tiêu chí khác nhau nhƣ: tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp, tổng số vốn hoặc giá trị tài sản, doanh thu. Nhƣ vậy, khái niệm về DNNVV có thể đƣợc khái quát là doanh nghiệp có quy mô đƣợc giới hạn bởi các tiêu thức lao động, vốn, giá trị tài sản hoặc doanh thu tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Việc sử dụng các tiêu thức để nhận diện DNNVV ở các quốc gia cũng có một số điểm khác biệt thể hiện ở số lƣợng các tiêu thức và việc lƣợng hóa các tiêu thức ở mỗi quốc gia. Do vậy, khái niệm DNNVV chỉ mang tính e 11 tƣơng đối, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, vào đặc điểm phát triển của mỗi loại ngành nghề và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Tiêu chí xác định DNNVV ở một số nƣớc và vùng lãnh thổ trên thế giới Các tiêu chí STT Quốc gia Số lao Tổng vốn hoặc Doanh thu động giá trị tài sản Mỹ <500 hoặc Không quan Không quan 1 (Trong tất cả các 1.000 trọng trọng ngành) Nhật Bản <50 <10 triệu yên - Bán lẻ <100 <100 triệu yên Không quan 2 - Bán buôn <100 <50 triệu yên trọng - Dịch vụ <300 <300 triệu yên - Các ngành sản xuất 3 Các nƣớc EU <250 <27 triệu euro <40 triệu euro Úc - Công nghiệp và <500 Không quan Không quan 4 dịch vụ trọng trọng - Các ngành khác <300 Canada Không quan <20 triệu đô 5 Ngành sản xuất và <500 trọng Canada dịch vụ Đài Loan <2,3 triệu USD - Ngành chế tạo, <200 Không quan 6 xây dựng và khai trọng mỏ Không quan - Các ngành khác <50 <29 triệu USD trọng Hàn Quốc - Công nghiệp xây <300 <0,6 triệu USD 7 dựng <1,4 triệu - Thƣơng mại dịch USD <50 <0,25 triệu USD vụ e 12 Các tiêu chí STT Quốc gia Số lao Tổng vốn hoặc Doanh thu động giá trị tài sản Malaysia <25 triệu 8 Sản xuất công <150 ringit nghiệp Không quan <500.000 USD trọng USD Từ 1,5 đến 60 Không quan 10 Philippines Từ 10 – 199 triệu peso trọng Thái Lan - Sản xuất < 200 triệu baht 11 - Bán buôn <100 triệu baht - Bán lẻ <60 triệu baht Từ 1-100 Không quan Không quan 12 Brunei (các ngành) đô la trọng trọng Singapore Nguồn: Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử Ở Việt Nam, quan niệm và cách xác định DNNVV khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Tuy nhiên, khái niệm về DNNVV ở Việt Nam đƣợc áp dụng thống nhất theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ nhƣ sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên ”. Đến tháng 01/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó quy định “DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 e 13 tỷ đồng”. Tháng 3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP về hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV trong đó quy định rõ các tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Cụ thể: Bảng 1.Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Lĩnh Tổng Tổng Tổng vực Số lao DT Tổng Số lao DT Tổng Số lao DT Tổng động của NV động của NV động của NV năm năm năm Nông nghiệp, <200 <100 <10 <3 tỷ <3 tỷ <100 <50 tỷ <20 tỷ <200 lâm tỷ tỷ ngƣời đồng đồng ngƣời đồng đồng ngƣời nghiệp, đồng đồng thủy sản Công <200 <100 nghiệp, <10 <3 tỷ <3 tỷ <100 <50 tỷ <20 tỷ <200 tỷ tỷ xây ngƣời đồng đồng ngƣời đồng đồng ngƣời đồng đồng dựng Thƣơng <100 <300 <100 <10 <10 tỷ <3 tỷ <50 <50 tỷ <100 mại và tỷ tỷ tỷ ngƣời đồng đồng ngƣời đồng ngƣời dịch vụ đồng đồng đồng Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ 1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp Nhân tố bên trong doanh nghiệp hay còn gọi là môi trƣờng nội bộ của doanh nghiệp là một thành phần của môi trƣờng kinh doanh, bao gồm các yếu tố khác nhau hiện diện bên trong doanh nghiệp, có thể ảnh hƣởng hoặc bị ảnh hƣởng bởi các lựa chọn, quyết định hoặc hoạt động của doanh nghiệp. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm văn hóa doanh nghiệp, máy móc e 14 thiết bị, quy trình làm việc, nhân sự, ngƣời quản trị, các sự kiện và các yếu tố khác trong doanh nghiệp có sức ảnh hƣởng đến quyết định của nhà quản trị. Những yếu tố này phản ánh nội lực, thể hiện bản sắc riêng của từng doanh nghiệp.
Các nhân tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hƣởng trực tiếp đến doanh nghiệp, hơn thế nữa các nhân tố này có thể đƣợc thay đổi tùy theo nhu cầu và tình hình thực tế để thích ứng trong môi trƣờng kinh doanh năng động. Vai trò của DNNVV DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế gồm công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ. đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của con ngƣời. Chính vì vậy, DNNVV có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trƣởng kinh tế của các quốc gia đặc biệt là các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau thì vai trò của DNNVV đƣợc thể hiện ở các mức độ khác nhau. Tại Việt Nam, vai trò của DNNVV đƣợc thể hiện rõ nét nhƣ sau: - Một là, DNNVV tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động góp phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp DNNVV tham gia kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế do đó mang lại cơ hội việc làm cho nhiều đối tƣợng lao động ở các vùng miền khác nhau. Ngoài ra, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng lao động ở các vùng kinh tế chƣa phát triển, vùng sâu, vùng xa. Nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trong khi các doanh nghiệp lớn phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNNVV có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trƣờng vì tính chất linh hoạt và năng động của mình, do đó có thể đứng vững mà không cần phải cắt giảm nhân công hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lƣợng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi.
- Hai là, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy e 15 tăng trƣởng kinh tế Hầu hết ở các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có đƣợc sự ổn định, do đó DNNVV đƣợc xem là thanh giảm sốc cho nền kinh tế trƣớc những biến động lớn. Với lợi thế về vốn đầu tƣ ít và nguồn lao động dồi dào, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp. DNNVV cung cấp cho thị trƣờng nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú ở mọi lĩnh vực, ngành nghề, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng đƣợc mọi nhu cầu của xã hội.
Từ đó, thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế vì thế có thể nói mức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lƣợng nền kinh tế là rất lớn. - Ba là, DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phƣơng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếu nền kinh tế chỉ tồn tại các doanh nghiệp lớn có xu hƣớng tập trung ở các thành phố, khu công nghiệp. mà thiếu đi các doanh nghiệp nhỏ thì sẽ xảy ra tình trạng phát triển mất cân đối giữa các vùng miền dẫn đến việc không tận dụng hết nguồn tài nguyên quốc gia, làm giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Trong khi đó, với quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ thì các DNNVV có thể tham gia vào nhiều thị trƣờng nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên, đất đai và lao động của từng vùng, miền.
Có thể nói, DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng thời thúc đẩy các ngành dịch vụ, thƣơng mại phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nƣớc nhà.