CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ SAI SÓT TRỌNG YẾU/GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ SAI SÓT TRỌNG YẾU/GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP Các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý. Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là nghiên cứu các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Định nghĩa về sai sót và gian lận Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240(BTC, 2012, mục I:Quy định chung),“Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý.” Như vậy nhầm lẫn là sai sót không cố ý và gian lận là sai sót cố ý. Tuy nhiên, gian lận là nội dung được nhấn mạnh trong luận văn vì các tài liệu đều tập trung đánh giá các thủ thuật gian lận và phương pháp phát hiện gian lận báo cáo tài chính. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 240 (BTC, 2012, mục I:Quy định chung) có định nghĩa về gian lận như sau : “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc 7 bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.” Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau: - Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính; - Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính; - Biển thủ tài sản; - Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báo cáo tài chính; - Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật; - Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính; - Cố ý tính toán sai về số học.
Một số gian lận số liệu tài chính điển hình trong thời gian qua Gian lận phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế. Vào cuộc cách mạng công nghiệp, đã xuất hiện hàng loạt các doanh nghiệp với sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý. Sự tách rời này đã làm phát triển hình thức gian lận mới đó là gian lận của người quản lý, nhân viên đối với người chủ sở hữu. Biểu hiện của các hành vi này là tham ô, biển thủ tài sản.
Đến thế kỷ 20, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán - một trong các kênh huy động vốn hiệu quả nhất của thị trường tài chính thế giới, làm phát sinh nhiều loại gian lận mới được thực hiện bởi một số người trong ban giám đốc, nhân viên. Vào cuối thế kỷ 20, sự phá sản của hàng loạt các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới mà sự sụp đổ của nó có thể kéo theo sự trượt dốc nghiêm trọng của cả một ngành. Xã hội đã phải giật mình trước một thực tế là ngày càng 8 nhiều các vụ gian lận xảy ra, trong đó vụ gian lận điển hình được nhắc tới nhiều nhất những năm cuối thế kỷ 20 phải kể đến là Enron, Worlcom, Xerox, Nicor Energy LLC. Tác giả Trần Thị Giang Tân (2007) đã tổng hợp những sai phạm sau.
Enron: Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Enron là một trong những công ty hàng đầu thế giới kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng, hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả rất cao. Tuy nhiên đến những năm cuối của thế kỷ 20, kết quả hoạt động kinh doanh thực của công ty ngày càng sụt giảm. Sáu tháng cuối năm 1999, lợi nhuận công ty là 325 triệu đô la trong khi đó 6 tháng cuối năm 2000 lợi nhuận chỉ còn lại là 55 triệu đô la. Để duy trì lòng tin của công chúng, Enron đã thổi phồng lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
Việc gian lận không thực hiện bởi một người hay một số ít người mà có sự cấu kết của nhiều người trong đó có cả Hội đồng quản trị. Nhóm người thực hiện gian lận là Ban lãnh đạo của công ty và kể cả công ty kiểm toán. Ngoài khai khống thu nhập và giấu chi phí, Enron còn tự ý thay đổi dữ liệu về thị trường năng lượng Texas, thị trường năng lượng California và hối lộ Chính phủ nước ngoài để thắng được các hợp đồng về năng lượng ở nước ngoài. Worldcom: Tháng 3 năm 2002 công ty này bị Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ, công tố viên bang New York buộc tội có những hành vi gian lận thông qua việc vốn hoá một khoản chi phí hoạt động trị giá 3.8 tỷ đô la và do đó khai khống lợi nhuận một khoản tương ứng.
Thêm vào đó là hành vi không liêm chính của người sáng lập ra công ty - ông Bernard Ebber đã vay một khoản tiền trị giá 400 triệu đô la mà không hề được theo dõi, ghi chép và khai báo trên báo cáo tài chính. Xerox: Tháng 6 năm 2000 Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ cáo buộc Xerox về tội công bố các thông tin sai lệch trên báo cáo tài chính trong suốt 5 9 năm, khai khống thu nhập 1. Để sửa chữa hành vi gian lận, Xerox đã đồng ý nộp phạt 10 triệu đô la cho Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ và lặp lại báo cáo tài chính từ năm 1997 một cách trung thực và minh bạch. Ban giám đốc công ty cũng đã có những cam kết tuân thủ theo các yêu cầu của Luật chứng khoán và đảm bảo báo cáo tài chính là không còn có các gian lận và sai sót nữa.
Nicor Energy LLC: Tháng 7 năm 2002 công ty đã gian lận trên báo cáo tài chính nhưng kiểm toán viên độc lập đã không thể phát hiện được. Gian lận tại công ty chủ yếu là hành vi khai khống doanh thu và khai thiếu chi phí. Sau đó, Nicor Energy LLC đã điều chỉnh báo cáo tài chính và hiện nay đã thiết lập được một hệ thống kế toán đáng tin cậy. Các loại gian lận nêu trên xuất hiện vào đầu thế kỷ 21 cho thấy rằng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kỹ thuật gian lận ngày càng phát triển, càng tinh vi và được thực hiện bởi sự thông đồng của nhiều nhóm người liên quan.
Nếu trước năm 2000, gian lận thường là hành vi biển thủ, tham ô được thực hiện bởi một số người trong Ban giám đốc hay nhân viên thì những năm gần đây, loại gian lận mới xuất hiện là gian lận trên báo cáo tài chính. Người thực hiện gian lận không còn là một hay một số người mà là một tập đoàn người trong đó có cả Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và Công ty kiểm toán. Tác hại của gian lận ngày càng lớn và có ảnh hưởng sâu rộng tới rất nhiều người trong xã hội. Các công trình nghiên cứu về gian lận Gian lận đã xuất hiện từ khi có sự xuất hiện của con người.
Thế nhưng việc nghiên cứu đầy đủ về gian lận chỉ mới xuất hiện trong vài thế kỷ gần đây. Nếu so sánh với thiệt hại của gian lận đối với nền kinh tế thì những nghiên cứu về gian lận và phát hiện gian lận mới chỉ dừng lại ở một mức độ rất khiêm tốn. Sau đây xin tóm tắt lại một số công trình nghiên cứu về gian 10 lận kinh điển trên thế giới. Tác giả Trần Thị Giang Tân (2007) đã tổng hợp các nghiên cứu về gian lận sau đây.
Nghiên cứu của Edwin H. Sutherland là nhà nghiên cứu về tội phạm người Mỹ. Edwin là người đầu tiên tiên phong trong việc nghiên cứu về gian lận do những nhà quản trị cao cấp nhằm lường gạt công chúng. Cho đến nay, những lý thuyết về gian lận vẫn dựa chủ yếu vào những nghiên cứu của ông.
Ông không phải là người có công đầu trong việc phân tích tâm lý của những kẻ phạm tội nhưng ông là cha đẻ của thuật ngữ “white-collar” - một thuật ngữ mà ngày nay đã trở thành rất thông dụng khi người ta muốn ám chỉ tới những gian lận do tầng lớp lãnh đạo của công ty gây ra. Một đóng góp to lớn trong sự nghiệp của Sutherland là lý thuyết về phân loại xã hội. Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào việc quan sát tội phạm đường phố : những kẻ lưu manh, sát thủ hay những kẻ du thủ du thực. Qua đó, Sutherland đã rút ra một kết luận: việc phạm tội thường phát sinh từ môi trường sống, vì thế hành vi phạm tội không thể được tiến hành nếu như không có sự tác động của yếu tố bên ngoài.
Để hiểu rõ bản chất và nhận diện tội phạm, cần nghiên cứu thái độ cũng như động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội. Nghiên cứu của Donald R.Cressey Công trình nghiên cứu của Donald R. Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20. Cressy đã chọn việc nghiên cứu về vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình.
Cressey tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên. 11 Mặc dù Donald R.Cressey là học trò xuất sắc của Sutherland tại trường đại học Indiana. Khác với bậc thầy của mình, Cressey lại tập trung hướng phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ. Ông là người phát minh tam giác gian lận, là mô hình được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều nghề nghiệp có liên quan: kiểm toán, an ninh, điều tra tội phạm.
Dưới đây là mô hình Tam giác gian lận của Donald R.1: Tam giác gian lận Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Giang Tân (2007) Theo Donald R. Cressey, hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ 3 nhân tố sau: áp lực, động cơ, cá tính của con người. Áp lực: Khởi nguồn của việc thực hiện gian lận là do người thực hiện chịu những áp lực.