Chương 1: Khái quát về công bố thông tin tự nguyện và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả nêu lên cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan đến việc CBTTTN sau đó trình bày tổng quan về nghiên cứu trong nước và quốc tế về mức độ CBTTTN trên SGDCK Hà Nội, tóm tắt các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước. Từ tổng quan và cơ sở sở nêu trên trình bày lý thuyết về phương pháp nghiên cứu phù hợp cho đề tài được chọn. Chương 2: Dữ liệu và kết quả nghiên cứu Đối với chương này, giới thiệu phương pháp thu thập số liệu và xây dựng mô hình thực nghiệm sau đó trình bày phương pháp đo lường biến phụ thuộc và biến độc lập.
Sau đó, nêu lên kỳ vọng các biến trong mô hình nghiên cứu dé tiến hành chạy dữ liệu. Tiếp theo, trình bày thực trạng mức độ CBTTTN trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội, kết quả chạy mô hình và giải thích kết quả mô hình hồi quy. Đưa ra hàm ý chính sách. KHÁI QUAT VE CONG BO THONG TIN TỰ NGUYEN VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1.
Một số van dé cơ ban về công bố thông tin tự nguyện Trong hai thập kỷ qua, việc sử dụng công khai tự nguyện đã góp phần phát triển lý thuyết hơn nữa. Mặc dù các học giả như McKinnon (1984) , Botosan (1997) va Healy và Palepu (2001) đã tranh luận về khái niệm công bố thông tin từ các quan điểm lý thuyết khác nhau, nhưng các yếu tố của những lý thuyết như vậy đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn bằng cách sử dụng kết hợp phân tích thống kê và tài liệu sẵn có về xử lý thông tin của con người. TTTN thường được xác định theo hai nhóm lý thuyết chính: các lý thuyết dựa trên kinh tế học (tức là lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết nhu cầu vốn) và các lý thuyết chính trị xã hội (như lý thuyết kinh tế chính trị, lý thuyết tính hợp pháp, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết thể chế). Tuy nhiên, quyết định sử dụng một lý thuyết cụ thé để củng cố các hoạt động CBTTTN liên quan đến cả khía cạnh bối cảnh bên trong và bên ngoài.
Những khía cạnh bối cảnh này thường được kết nối với các loại đặc điểm khác nhau của doanh nghiệp ở các quốc gia và thị trường vốn khác nhau. Công bố thông tin tự nguyện Meek, Roberts và Gray (1995) định nghĩa: “Các tiết lộ cá nhân không chỉ đơn thuân là tiệt 16 theo luật định, mà còn thê hiện các yêu câu của người sử dụng báo cáo hang năm ma các nhà quản lý tự do lựa chon đê cung cap thông tin kê toán và các thông tin khác phù hợp với nhu cầu của họ”. Tian và Chen (2009) định nghĩa: “CBTTTN là việc công ty niêm yết tự nguyện công bố thông tin bên cạnh việc công bố bắt buộc, nhằm duy trì hình ảnh của công ty, vì lợi ích của nhà đầu tư và tránh nguy cơ bị hack”. Báo cáo Cải thiện Doanh nghiệp do Dự án Nghiên cứu Báo cáo Doanh nghiệp (BRRP) của Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính biên soạn đã định nghĩa lại: “CBTTTN là thông tin ma các công ty niêm yết tự nguyện tiết lộ, đây không phải là thông tin cơ bản theo yêu câu của chuân mực kê toán và cơ quan quản lý chứng khoán”.
Tổng hợp các khái niệm trên, việc tự nguyện công bố thông tin là việc công bố những thông tin ngoài yêu cầu bắt buộc trong BCTN, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà Ban Giám đốc cho là phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan. Điều này có nghĩa là các công ty có thé hoặc không bắt buộc phải tiết lộ thông tin mà pháp luật không yêu cau. Xét trong xu thế hiện nay, việc tự nguyện công bố thông tin đang được các đối tượng sử dụng thông tin rất quan tâm vì tính hữu ích của nó và các DN cũng ngày càng được hưởng nhiều lợi ích khi công bồ thông tin đó. Thị tường chứng khoán Vị trí của TTCK trong nên kinh tế Nền kinh tế thị trường bao gồm thị trường hàng hóa và thị trường tài chính.
Thị trường tài chính lại bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ là nơi lưu chuyên vốn ngăn hạn, cung ứng vốn lưu động cho nền kinh tế, còn TTCK là nơi lưu chuyên vốn trung và dai hạn, cung ứng vốn cho đầu tư phát triển thông qua công cụ chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu). Vì vậy, một nền kinh tế thi trường hoàn chỉnh không thể thiếu TTCK. Thị trường chứng khoán (TTCK) hay sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) là nơi phát hành giao dich mua bán, trao đổi các loại cô phiếu chứng khoán và được thực hiện tại SGDCK hoặc thông qua các công ty môi giới chứng khoán.
Đặc điềm của TTCK Cung cấp vốn cho nên kinh tế quốc gia, dịch chuyển và phân bồ vốn đến nơi hiệu quả: Khi các nhà đầu tư giao dịch mua bán trên TTCK của các DN phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Khi đó khoản tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động kinh doanh trong TTCK. Từ đó thấy được sự xoay vòng và mở rộng sản xuất, giúp cho DN thêm được nguồn vốn từ các NDT. Thông qua vai trò này, chính phủ và các DN phát hành cũng huy động được nguồn vốn nhất định phục vụ các kế hoạch, đầu tư hạ tầng, phục vụ cho các hoạt động của Chính phủ và DN.
Tính thanh khoản cao: Tính thanh khoản được thé hiện ở chỗ, các NDT có thé chuyên đôi chứng khoán họ sở hữu thành các công cụ khác như tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi NĐT có nhu cầu. Đây cũng là một yếu tố thấy được sự linh hoạt, nhanh chóng, an toàn của vốn đầu tư. Khi TTCK hoạt động ngày càng nhiều và có hiệu quả tốt thì tính thanh khoản càng cao. Tính sinh lời 6n định: được coi là một trong những yếu tố quyết định nói lên đặc trưng của thị trường này.
Tính sinh lời được thé hiện ở chỗ mọi NDT khi tham gia vào thị trường này đều có mong muốn cũng như kỳ vọng nhận được khoản lợi nhuận từ khoản đầu tư họ mang đến, giúp cho NDT có được thứ họ cần cũng như TTCK có những hoạt động kinh doanh sinh lời thể hiện qua giá cả được hình thành trên cơ sở quan hệ cung — cau. Thị trưởng liên tục: TTCK là một thị trường liên tục được biểu hiện chính ở thị trường thứ cấp và thị trường sơ cấp. Với thị trường sơ cấp là lần đầu giao dịch chứng khoán sau đó có thể được mua bán lại thông qua thị trường thứ cấp. Phản ánh nên kinh tế đặc điểm của TTCK.
Quan hệ tài trợ trực tiếp giữa người đầu tư mua chứng khoán và người sử dụng vốn phát hành CK. Các tổ chức trung gian đóng vai trò hỗ trợ phát hành và giao dịch mua/bán CK. Chứa đựng yếu tố đầu cơ, lan truyền rủi ro cao, rút vốn 6 ạt. Sàn giao dịch chứng khoán Ha Nội Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập trên cơ sở chuyên đối, tô chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (trở thành thành viên mới) theo Quyết định số 01/2009/QD - TTG của Thủ tướng Chính phủ.
127/1998/QD — TTg va bắt đầu hoạt động từ ngày 8/3/2005). Ngày 24/06/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức được thành lập và hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu (do Bộ Tài chính làm đại diện). Với sứ mệnh và trách nhiệm của mình từ đó sàn giao dịch điều hành hoạt động và kiểm tra, giám sát cũng như quản lý TTCK. Nơi đây đã góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển chung của TTCK Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung, từ đó phục vụ cho các mục tiêu và kế hoạch về phát triển kinh tế của đất nước.
SGDCK Hà Nội ngoài những nhiệm vụ nêu trên còn góp phần thực hiện tích cực trong các hoạt động về đấu thầu cô phan, đấu thầu trái phiếu Chính phủ và điều hành các thị trường. Doanh nghiệp niêm yết DN niêm yết là một DN công cộng mà sau khi đăng ký, cô phiếu của công ty sẽ được bán công khai trên sàn giao dịch chứng khoán, khi đã trở thành công ty niêm yết, đồng nghĩa với việc công ty sẽ chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, đây được coi là hình thức phát triển cao nhất của DN. Do đó DN niêm yết tạo được lòng tin và thu hút các NDT vào DN. Khi trở thành công ty niêm yết, công ty phải công khai, minh bạch các thông tin về cô phiếu, nguyên tắc phát hành các loại chứng khoán của công ty để huy động nguồn vốn.
Do đó, khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán được coi là động lực để trở thành một DN niêm yết. Vai trò của việc công bồ thông tin tự nguyện Một trong những vai trò quan trọng cua việc CBTTTN là mang đến lợi ích cho DN niêm yết, NDT và cả chính phủ. Không chỉ vậy còn bảo vệ NDT khỏi những rủi ro không lường trước được. Khi được tiếp nhận các TTTN sẽ góp phần vào các hoạt động tạo lợi ích đồng thời giúp cho NĐT, các cá nhân trong và ngoài DN hiểu rõ hơn về tình hình, các chính sách nơi mình đầu tư vốn và tạo mối quan hệ với các DN khác.
Qua đó, sẽ thu hút được nhiều quỹ đầu tư, gia tăng giá trị DN từ đó tạo niềm tin và gia tăng lợi ích cho các DN niêm yết khi mà CBTTTN nhiều hơn ra thị trường. Đồng nghĩa với việc, nếu DN mượn thời cơ, bất chấp việc CBTTTN sai, không đúng và thiếu tính minh bạch thì sẽ làm gia tăng các hoạt động kinh doanh trái với pháp luật, đạo đức từ đó không những làm giảm giá trị DN mà còn ảnh hưởng đến các NDT và người sử dụng, làm cho nguồn lực phân bổ thiếu hiệu quả đặc biệt ảnh hưởng đến nên kinh tế. Đề cập nhật các TTTN một cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác thì các cá nhân, t6 chức tham gia thị trường như NDT vốn, nhà xuất - nhập khẩu, ngân hàng,. thì cần cập nhật hằng ngày, theo sát dé bắt kịp những thông tin này dé biết được các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế.