Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" được thực hiện trong bối cảnh các quy tắc quản trị công ty tại Việt Nam đã trải qua quá trình sửa đổi và bổ sung kéo dài, nhưng mức độ ảnh hưởng thực tế của các quy định và khuyến nghị này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ bằng thực nghiệm. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban điều hành gây suy giảm tính minh bạch của thông tin kế toán, làm sai lệch các chỉ số kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của các nhà đầu tư trên thị trường vốn. Nghiên cứu thực nghiệm tại một thị trường mới nổi như Việt Nam là cơ sở để cung cấp thêm căn cứ cho các nhà quản lý, cơ quan giám sát và nhà đầu tư trong việc kiểm soát hành vi cơ hội và đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên hai điểm mấu chốt trong lịch sử học thuật:

  • Thứ nhất, các công trình trước đây trên thế giới (chủ yếu tại Anh, Úc, Canada, Mỹ) và tại Việt Nam chưa thống nhất về chiều hướng tác động của các cơ chế quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận, đồng thời phần lớn các tác giả không sử dụng giá trị tuyệt đối để đo lường mức độ điều chỉnh lợi nhuận.
  • Thứ hai, các nghiên cứu hiếm hoi sử dụng giá trị tuyệt đối lại không tiến hành phân tách hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành hai nhóm riêng biệt: điều chỉnh lợi nhuận âm (giảm lợi nhuận nhằm giảm thiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp) và điều chỉnh lợi nhuận dương (tăng lợi nhuận nhằm mục đích làm đẹp báo cáo tài chính). Việc gộp chung dữ liệu mà không phân tách hai xu hướng đối lập này với cùng một mô hình hồi quy dẫn đến hiện tượng triệt tiêu tác động của các biến quản trị công ty, làm sai lệch kết quả thực nghiệm.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Mục tiêu 1: Đánh giá thực nghiệm tác động của các nhân tố thuộc quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp, giải quyết khoảng trống học thuật về việc tách biệt hai chiều hướng điều chỉnh tăng và điều chỉnh giảm.
  • Mục tiêu 2: Đề xuất hệ thống khuyến nghị đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cơ quan quản lý thuế, ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà đầu tư, công ty kiểm toán và cơ quan thanh tra giám sát nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị và nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi chính của luận án được xác định là: "Tác động của các yếu tố thuộc quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận như thế nào?"

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các yếu tố thuộc cơ chế quản trị công ty tới điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam gồm Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Luận án loại trừ các định chế tài chính, ngân hàng, công ty bảo hiểm và tổ chức tín dụng do các đơn vị này có cấu trúc tài chính đặc thù và chịu sự điều chỉnh của các khung pháp lý riêng biệt.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2018.
  • Mẫu dữ liệu: Từ tổng số 763 doanh nghiệp niêm yết, sau khi sàng lọc các điều kiện hoạt động liên tục, không thay đổi kỳ kế toán và loại bỏ các quan sát thiếu dữ liệu, tác giả xác lập mẫu nghiên cứu chính thức gồm 499 công ty phi tài chính với 3.013 quan sát.
  • Nội dung quản trị công ty: Luận án tập trung vào hai nhóm yếu tố phát sinh từ cấu trúc nội bộ doanh nghiệp: đặc điểm hội đồng quản trị (quy mô, thành viên không điều hành, sự kiêm nhiệm của CEO, chuyên môn tài chính - kế toán, thành viên nữ, độ tuổi trung bình) và cơ cấu sở hữu (mức độ tập trung sở hữu, sở hữu nhà quản lý, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo các nhóm thị trường và các đặc trưng quản trị:

Các nghiên cứu quốc tế tại các thị trường phát triển:

  • Tại Úc: Xie và cộng sự (2001), Klein (2002), Ashbaugh và cộng sự (2003), Abbott và cộng sự (2004), Yang và Krishnan (2005), Lin và cộng sự (2006).
  • Tại Mỹ: Koh (2003), Davidson và cộng sự (2005), Hsu và Koh (2005), Benkel (2006), Baxter và Cotter (2009).
  • Các nghiên cứu phân tích cơ chế quản trị và chi phí đại diện: Jensen và Meckling (1976), Easterbrook và Fischel (1991) khảo sát hệ thống quản trị tại Mỹ; Roe (1993) và Charkham (1994) thảo luận về mô hình Đức và Nhật Bản; Barca (1995) cùng Pagano, Panetta và Zingales (1995) phân tích các tập đoàn tại Ý; Shleifer và Vishny (1997), La Porta và cộng sự (1997), Demsetz và Lehn (1985), Mitton (2002), Gompers, Ishii và Metrick (2003) nghiên cứu chỉ số quản trị tổng hợp; Baydoun và cộng sự (2012) khẳng định vai trò của quản trị công ty trong việc làm giảm mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông.

Các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi và khu vực châu Á:

  • Abed và cộng sự (2012) nghiên cứu 329 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman giai đoạn 2006-2009 bằng mô hình Jones (1991).
  • Roy (2015) kiểm tra đặc điểm quản trị tại Ấn Độ; Kao và Chen (2004) khảo sát 1.097 quan sát tại Đài Loan; Abdul Rahman và Ali (2006) thực hiện trên mẫu 97 công ty niêm yết tại Malaysia giai đoạn 2002-2003.
  • Alain Chevalier và cộng sự (2006) phân tích cơ cấu sở hữu nước ngoài tại Indonesia; Noronha và cộng sự (2008) phát hiện động cơ tiền thưởng và thuế tác động mạnh đến điều chỉnh lợi nhuận tại Trung Quốc.

Các nghiên cứu trong bối cảnh thị trường Việt Nam:

  • Giáp Thị Liên (2014) và Đào Thị Ngọc Thương (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận.
  • Phạm Thị Bích Vân (2012) chỉ ra các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).
  • Nguyễn Trí Tri (2012) đề cập động cơ điều chỉnh lợi nhuận từ các quy định pháp lý về tỷ suất sinh lời; Nguyễn Thị Minh Trang (2012) chứng minh các doanh nghiệp chưa niêm yết điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang (2013) khảo sát 85 công ty niêm yết trên HOSE năm 2011, sử dụng mô hình Leuz và cộng sự (2003) và chỉ số Z của Altman (2000), kết luận mức độ điều chỉnh lợi nhuận tỷ lệ thuận với nguy cơ phá sản.
  • Hoàng Thị Việt Hà và Đặng Ngọc Hùng (2018) ghi nhận quy mô hội đồng quản trị có quan hệ ngược chiều và sự kiêm nhiệm CEO - Chủ tịch có quan hệ thuận chiều với điều chỉnh lợi nhuận; trong khi Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017) không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa giữa số lượng thành viên không điều hành và điều chỉnh lợi nhuận.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù số lượng nghiên cứu về quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận tương đối phong phú, phần lớn các tác giả trước đây chưa giải quyết được bài toán phân tách dữ liệu theo hai chiều điều chỉnh. Việc gộp chung các khoản dồn tích có thể điều chỉnh mà không phân định rõ ràng giữa điều chỉnh lợi nhuận âm (hướng giảm để tránh thuế) và điều chỉnh lợi nhuận dương (hướng tăng để đáp ứng kỳ vọng thị trường) khiến cho tác động của các nhân tố quản trị bị làm mờ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách áp dụng giá trị tuyệt đối cho từng nhóm dữ liệu riêng biệt và so sánh trực tiếp với mô hình gộp tổng thể trên cùng một tập dữ liệu 10 năm tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng

Luận án vận dụng hai lý thuyết cốt lõi trong nghiên cứu kế toán và tài chính:

  • Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory): Được phát triển bởi Watts và Zimmerman (1986, 1990) dựa trên nền tảng kinh tế học tân cổ điển (Deegan và Unerman, 2005; Godfrey và cộng sự, 2003). Lý thuyết giả định rằng hành vi của con người bắt nguồn từ tư lợi cá nhân và tính cơ hội. Watts và Zimmerman chỉ ra ba giả thuyết cơ bản chi phối việc lựa chọn chính sách kế toán:
    1. Giả thuyết tiền thưởng quản lý (kế hoạch thưởng): Các nhà quản lý có xu hướng chuyển dịch lợi nhuận từ tương lai về hiện tại khi hợp đồng thưởng gắn liền với chỉ tiêu kế toán (Healy, 1985; Holthausen, Larcker và Sloan, 1995; Mehrdad Ghanbari và cộng sự, 2016).
    2. Giả thuyết nợ (hệ số nợ/vốn chủ sở hữu): Doanh nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao sẽ lựa chọn các thủ thuật kế toán nhằm tăng lợi nhuận hiện tại để tránh vi phạm các điều khoản cam kết nợ vay (DeFond và Jiambalvo, 1994; Sweeney, 1994).
    3. Giả thuyết chi phí chính trị: Các doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc chịu sự giám sát pháp lý chặt chẽ có động cơ điều chỉnh giảm lợi nhuận để giảm thiểu sự chú ý của các cơ quan quản lý và tránh các nghĩa vụ thuế bổ sung.
  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Bắt nguồn từ Berle và Means (1932), được chuẩn hóa bởi Jensen và Meckling (1976) và Fama và Jensen (1983). Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, bất cân xứng thông tin giữa nhà quản trị nội bộ và các cổ đông bên ngoài làm phát sinh xung đột lợi ích. Ban điều hành có thể sử dụng quyền xét đoán kế toán đối với các khoản dồn tích để tối đa hóa lợi ích riêng (Jensen, 1986). Cơ chế quản trị công ty—đặc biệt là giám sát từ hội đồng quản trị và cơ cấu cổ đông—được thiết lập nhằm kiểm soát các hành vi cơ hội này (John và Senbet, 1998).

Động cơ và phương pháp điều chỉnh lợi nhuận:

  • Động cơ điều chỉnh: Luận án phân loại 5 động cơ chính gồm: (1) Động cơ tiền thưởng quản lý; (2) Động cơ giao ước nợ; (3) Động cơ thị trường vốn (ổn định giá cổ phiếu, chào bán cổ phần, sáp nhập - Burgstahler và Dichev, 1997; Erickson và Wang, 1999); (4) Động cơ pháp lý và thuế (Baralexis, 2004); (5) Động cơ đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích và nhà đầu tư (Degeorge, Patel và Zeckhauser, 1999; Kasznik, 1999).
  • Kỹ thuật điều chỉnh: Phân biệt giữa kế toán dồn tích theo chuẩn mực IAS 1 và cơ sở tiền mặt; các phương pháp thực hiện gồm lựa chọn chính sách kế toán, can thiệp vào các giao dịch thực tế (Roychowdhury, 2006), điều chỉnh tổng dồn tích, sử dụng các khoản dồn tích cụ thể, phân phối lợi nhuận và làm mềm lợi nhuận (Imhoff, 1977). Hậu quả của hành vi này bao gồm nguy cơ sụt giảm giá cổ phiếu trung bình khoảng 9% khi bị cơ quan quản lý điều tra (Dechow và cộng sự, 1996) và gia tăng xác suất rơi vào vùng nguy hiểm phá sản (Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang, 2013).

Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên phần mềm Stata 12 theo quy trình định lượng chặt chẽ:

  1. Thống kê mô tả toàn bộ các biến số nghiên cứu.
  2. Phân tích tương quan giữa các biến nhằm nhận diện mối liên kết ban đầu và phát hiện nguy cơ cộng tuyến.
  3. Hồi quy bằng các mô hình dữ liệu bảng: Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  4. Thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình: kiểm định F (so sánh Pooled OLS và FEM), kiểm định Hausman (so sánh FEM và REM).
  5. Thực hiện các kiểm định khuyết tật: kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi (Modified Wald test) và kiểm định tự tương quan (Wooldridge test).
  6. Khắc phục các khuyết tật của mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (GLS) và mô hình hồi quy động System GMM nhằm giải quyết hiện tượng nội sinh tiềm ẩn giữa các biến quản trị công ty và biến điều chỉnh lợi nhuận.

Lựa chọn mô hình đo lường biến điều chỉnh lợi nhuận (DA): Luận án tiến hành hồi quy thực nghiệm để so sánh 4 mô hình đo lường dồn tích có thể điều chỉnh phổ biến trong lịch sử nghiên cứu kế toán. Dưới đây là bảng tổng hợp các mô hình được tác giả đánh giá:

Tên mô hình Tác giả và năm công bố Biến số đưa vào phương trình ước lượng NDA Tiêu chí so sánh và kết quả lựa chọn
Mô hình Jones gốc Jones (1991) $1/A_{t-1}$, $\Delta REV_{it}/A_{t-1}$, $PPE_{it}/A_{t-1}$ Giả định doanh thu không bị điều chỉnh; khả năng giải thích thấp hơn trên mẫu nghiên cứu.
Mô hình Jones điều chỉnh Dechow, Sloan và Sweeney (1995) $1/A_{t-1}$, $(\Delta REV_{it} - \Delta REC_{it})/A_{t-1}$, $PPE_{it}/A_{t-1}$ Khắc phục hạn chế của mô hình Jones bằng cách loại trừ biến động khoản phải thu; mức độ phù hợp trung bình.
Mô hình Kothari Kothari, Leone và Wasley (2005) $1/A_{t-1}$, $(\Delta REV_{it} - \Delta REC_{it})/A_{t-1}$, $PPE_{it}/A_{t-1}$, $ROA_{it-1}$ Bổ sung biến kiểm soát hiệu quả hoạt động năm trước ($ROA_{t-1}$); hệ số giải thích chưa đạt mức tối ưu trên mẫu.
Mô hình Kasznik Kasznik (1999) $1/A_{t-1}$, $(\Delta REV_{it} - \Delta REC_{it})/A_{t-1}$, $PPE_{it}/A_{t-1}$, $\Delta CFO_{it}/A_{t-1}$ Bổ sung biến động dòng tiền kinh doanh ($\Delta CFO$); đạt hệ số $R^2 = 58,15%$ (cao nhất trong các mô hình).

Dựa trên kết quả thực nghiệm, mô hình Kasznik (1999) có hệ số xác định $R^2$ đạt $58,15%$, cao nhất trong số bốn mô hình được kiểm định. Kết quả này tương đồng với phát hiện của Sajad Nazir và Talat Afza (2018). Do đó, tác giả lựa chọn phần dư từ mô hình hồi quy Kasznik làm biến đại diện cho các khoản dồn tích có thể điều chỉnh ($DA_{it} = TA_{it} - NDA_{it}$) trong các bước hồi quy tiếp theo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương mở đầu tập trung thiết lập luận cứ khoa học về tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả xác định rõ các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Đối tượng nghiên cứu được khoanh vùng là tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở 499 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2009-2018 (3.013 quan sát thu thập từ Vietstock). Chương này cũng công bố sơ đồ khung nghiên cứu (Sơ đồ 1.1) mô tả tiến trình từ nhận diện vấn đề, tổng quan tài liệu, thiết lập giả thuyết, thu thập dữ liệu, ước lượng trên Stata 12 cho đến thảo luận kết quả và khuyến nghị.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp

Chương 2 cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận. Tác giả phân tích các khái niệm từ góc độ các tổ chức quốc tế (OECD, IFC) và các học giả kinh điển (Berle và Means, 1932; John và Senbet, 1998). Nội dung chương đi sâu vào 5 nhóm động cơ thúc đẩy hành vi cơ hội của nhà quản lý (tiền thưởng, nợ vay, thị trường vốn, pháp lý và kỳ vọng nhà đầu tư), cùng 6 kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính. Luận án trình bày chi tiết hai lý thuyết nền tảng là Lý thuyết kế toán thực chứng và Lý thuyết đại diện. Đồng thời, chương 2 tổng quan toàn diện các mô hình đo lường dồn tích từ Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cộng sự (1995), Kasznik (1999) đến Kothari và cộng sự (2005), từ đó đưa ra căn cứ thực nghiệm để lựa chọn mô hình Kasznik với $R^2 = 58,15%$. Chương này cũng rà soát các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về đặc điểm hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu để chỉ ra khoảng trống nghiên cứu.

Chương 3: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp

Trên cơ sở lý thuyết đại diện và tổng quan tài liệu, Chương 3 thiết lập các giả thuyết nghiên cứu xoay quanh hai nhóm biến quản trị công ty:

  • Nhóm biến đặc điểm hội đồng quản trị: quy mô hội đồng quản trị (đối chiếu quy định từ Luật Doanh nghiệp 2014 và Thông tư 121/2012/BTC), tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không điều hành (theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP), tình trạng kiêm nhiệm chức danh CEO và Chủ tịch hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên có chuyên môn tài chính - kế toán, số lượng thành viên nữ và độ tuổi trung bình của hội đồng quản trị.
  • Nhóm biến cơ cấu sở hữu: mức độ tập trung quyền sở hữu, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý, tỷ lệ sở hữu nhà nước và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Chương 3 thiết lập phương trình hồi quy tổng quát, mô tả chi tiết phương pháp làm sạch dữ liệu bảng, định nghĩa toán học của các biến phụ thuộc (giá trị tuyệt đối của biến điều chỉnh lợi nhuận gộp, biến điều chỉnh lợi nhuận âm và biến điều chỉnh lợi nhuận dương) cùng quy trình kiểm định kinh tế lượng trên Stata 12.

Chương 4: Thực trạng về sự tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thống kê và ước lượng hồi quy thực nghiệm từ mẫu 3.013 quan sát của 499 doanh nghiệp phi tài chính giai đoạn 2009-2018. Kết quả hồi quy được triển khai qua các bước kiểm định lựa chọn mô hình (F-test, Hausman test) và khắc phục khuyết tật phương sai thay đổi, tự tương quan thông qua mô hình GLS và hồi quy động System GMM. Điểm mấu chốt của chương là việc trình bày bảng kết quả so sánh giữa trường hợp phân tích gộp toàn bộ mẫu với trường hợp phân tách thành hai phương trình riêng biệt: phương trình giải thích mức độ điều chỉnh giảm lợi nhuận (biến âm) và phương trình giải thích mức độ điều chỉnh tăng lợi nhuận (biến dương). Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố quản trị công ty biểu hiện chiều hướng và mức độ tác động khác nhau rõ rệt khi tách biệt hai xu hướng này, khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu đề ra.

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Chương cuối cùng tiến hành thảo luận sâu về ý nghĩa kinh tế của các hệ số hồi quy tìm được, đặt trong mối liên hệ so sánh với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế. Từ các phát hiện thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn hướng tới các bên liên quan nhằm hạn chế hành vi thao túng kế toán. Chương 5 cũng chỉ rõ các ưu điểm về mặt phương pháp luận, các giới hạn nghiên cứu không thể tránh khỏi và đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:

  • Luận án bổ sung vào chuỗi nghiên cứu thực nghiệm về quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận tại các thị trường mới nổi thông qua việc kiểm chứng độ phù hợp của mô hình Kasznik (1999). Kết quả khẳng định việc bổ sung biến động dòng tiền hoạt động kinh doanh ($\Delta CFO$) giúp nâng cao năng lực giải thích của mô hình ước lượng dồn tích tại Việt Nam với $R^2$ đạt $58,15%$.
  • Luận án đóng góp về mặt phương pháp tiếp cận khi chứng minh rằng việc sử dụng giá trị tuyệt đối kết hợp phân tách điều chỉnh lợi nhuận thành hai nhóm riêng biệt (điều chỉnh giảm - âm và điều chỉnh tăng - dương) phản ánh chính xác bản chất hành vi của ban quản trị, khắc phục triệt để hiện tượng triệt tiêu số liệu vốn tồn tại trong các mô hình gộp truyền thống.

Những đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện trong giai đoạn 10 năm (2009-2018) về thực trạng quản trị công ty và mức độ điều chỉnh lợi nhuận tại 499 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX.
  • Đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm nâng cao tính minh bạch:
    • Đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Rà soát và hoàn thiện các quy định về chuẩn mực quản trị công ty đại chúng; nâng cao hiệu lực thực thi các quy định về tính độc lập của thành viên hội đồng quản trị, phân tách rõ ràng vai trò Chủ tịch và CEO, giám sát chặt chẽ hoạt động công bố thông tin kế toán.
    • Đối với cơ quan quản lý thuế: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu điều chỉnh giảm lợi nhuận kế toán nhằm mục đích tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Thận trọng trước các chỉ số lợi nhuận báo cáo khi thẩm định hồ sơ vay vốn, thiết lập các điều khoản giao ước nợ chặt chẽ dựa trên dòng tiền thuần thay vì chỉ dựa vào lợi nhuận kế toán.
    • Đối với các nhà đầu tư: Nâng cao năng lực phân tích chất lượng thông tin kế toán, nhận diện các tín hiệu quản trị nội bộ để đánh giá đúng rủi ro điều chỉnh lợi nhuận trước khi ra quyết định đầu tư vốn.
    • Đối với các công ty kiểm toán và cơ quan thanh tra: Chú trọng kiểm toán các khoản mục ước tính dồn tích và các giao dịch kinh tế lớn phát sinh vào thời điểm cuối niên độ kế toán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Giới hạn về mẫu nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính, loại trừ hoàn toàn các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và công ty bảo hiểm do tính chất đặc thù về cấu trúc vốn và quy định pháp lý.
  • Giới hạn về khung thời gian dữ liệu: Bộ dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 10 năm từ năm 2009 đến năm 2018, chưa phản ánh các biến động kinh tế và thay đổi thể chế pháp lý phát sinh sau thời gian này.
  • Giới hạn về phạm vi biến số quản trị: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các yếu tố quản trị công ty nội sinh phát sinh từ bên trong doanh nghiệp (đặc điểm hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu), chưa mở rộng kiểm tra đầy đủ các yếu tố quản trị bên ngoài như áp lực từ thị trường kiểm soát doanh nghiệp hay môi trường pháp lý tổng thể.
  • Giới hạn về kỹ thuật đo lường: Luận án tập trung đo lường điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích (accrual-based earnings management), chưa kết hợp phân tích sâu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch thực tế (real earnings management).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm bằng cách xây dựng các mô hình đo lường dồn tích đặc thù cho định chế tài chính.
  • Cập nhật chuỗi dữ liệu thứ cấp cho các giai đoạn tiếp theo sau năm 2018 để đánh giá sự thay đổi trong hành vi của doanh nghiệp dưới tác động của các quy định pháp lý mới.
  • Kết hợp đồng thời việc đo lường điều chỉnh lợi nhuận qua dồn tích và điều chỉnh lợi nhuận qua các hoạt động thực tế nhằm đánh giá toàn diện hành vi thao túng báo cáo tài chính của các nhà quản lý.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu sinh và học viên cao học:

  • Cung cấp một khung phương pháp luận nghiên cứu định lượng chặt chẽ trong lĩnh vực kế toán - tài chính, từ quy trình chọn lọc mẫu dữ liệu bảng lớn đến các bước kiểm định kinh tế lượng nâng cao (GLS, System GMM).
  • Tài liệu mẫu mực về kỹ thuật so sánh thực nghiệm các mô hình ước lượng dồn tích (Healy, DeAngelo, Jones, Modified Jones, Kasznik, Kothari) để lựa chọn mô hình có năng lực giải thích cao nhất.

Giảng viên và nhà nghiên cứu:

  • Cung cấp nguồn tài liệu học thuật tổng quan có hệ thống về Lý thuyết kế toán thực chứng và Lý thuyết đại diện gắn liền với hành vi cơ hội của ban quản trị.
  • Cơ sở đối chiếu kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại một thị trường mới nổi như Việt Nam với các phát hiện tại các nền kinh tế phát triển.

Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính):

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp về hiệu quả giám sát của hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu, làm cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư hướng dẫn về quản trị công ty đại chúng.

Nhà đầu tư, kiểm toán viên và cán bộ tín dụng ngân hàng:

  • Cung cấp công cụ nhận diện các dấu hiệu rủi ro liên quan đến chất lượng số liệu lợi nhuận báo cáo, hỗ trợ việc đánh giá mức độ tin cậy của báo cáo tài chính trong thẩm định cấp tín dụng và phân tích định giá doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao luận án lựa chọn mô hình Kasznik (1999) thay vì mô hình Jones (1991) hay mô hình Jones điều chỉnh (1995)?

Tác giả đã tiến hành hồi quy kiểm định thực nghiệm cả bốn mô hình phổ biến trên cùng tập dữ liệu 499 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Kết quả kiểm tra cho thấy mô hình Kasznik (1999)—nhờ đưa thêm biến kiểm soát sự thay đổi của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ($\Delta CFO$) trên tổng tài sản—đạt hệ số xác định $R^2 = 58,15%$, cao nhất so với ba mô hình còn lại. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sajad Nazir và Talat Afza (2018), chứng minh mô hình Kasznik có mức độ giải thích hành vi dồn tích tốt nhất đối với đặc thù dữ liệu kế toán tại thị trường Việt Nam.

Luận án xác định những động cơ kinh tế chính nào thúc đẩy nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận?

Dựa trên nền tảng lý thuyết kế toán thực chứng và tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra 5 động cơ cơ bản: (1) Động cơ tiền thưởng nhằm tối đa hóa thu nhập của nhà quản lý theo các kế hoạch thưởng gắn với kết quả kinh doanh; (2) Động cơ giao ước nợ nhằm tránh vi phạm các điều khoản cam kết với chủ nợ và ngân hàng; (3) Động cơ thị trường vốn nhằm làm đẹp bức tranh tài chính trước các sự kiện phát hành cổ phiếu (IPO), sáp nhập hoặc giữ ổn định giá cổ phiếu; (4) Động cơ quy định pháp lý và thuế nhằm giảm thiểu nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp; (5) Động cơ đáp ứng kỳ vọng và dự báo của các nhà phân tích tài chính.

Mẫu nghiên cứu thực nghiệm của luận án được chọn lọc như thế nào và có quy mô bao nhiêu?

Từ tổng số 763 doanh nghiệp niêm yết ban đầu trên hai sàn HOSE và HNX, tác giả loại trừ các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù riêng về báo cáo tài chính. Đối với các công ty phi tài chính, tác giả chọn các đơn vị đáp ứng tiêu chí: hoạt động liên tục trong 10 năm (2009-2018), cổ phiếu giao dịch thường xuyên, không thay đổi niên độ kế toán và có đầy đủ báo cáo tài chính được kiểm toán do Vietstock cung cấp. Sau khi loại bỏ các quan sát thiếu hoặc không đáng tin cậy, mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm 499 công ty phi tài chính với 3.013 quan sát.

Vì sao việc phân tách điều chỉnh lợi nhuận thành hai chiều âm và dương lại là điểm mấu chốt của luận án?

Các doanh nghiệp trong thực tế tồn tại hai xu hướng điều chỉnh đối lập: điều chỉnh tăng (dương) để nâng cao giá trị hình ảnh doanh nghiệp và điều chỉnh giảm (âm) để giảm chi phí thuế. Nếu không dùng giá trị tuyệt đối và không tách riêng hai nhóm dữ liệu mà gộp chung vào một mô hình hồi quy duy nhất, tác động của các nhân tố quản trị công ty đối với hai xu hướng này sẽ triệt tiêu lẫn nhau, dẫn đến kết luận thực nghiệm sai lệch hoặc làm mất đi ý nghĩa thống kê của các biến độc lập.

Các yếu tố cụ thể nào thuộc về hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu được đưa vào mô hình phân tích?

Luận án xem xét hai nhóm yếu tố phát sinh từ cấu trúc nội bộ:

  • Đặc điểm hội đồng quản trị: Quy mô hội đồng quản trị, số lượng thành viên hội đồng quản trị không điều hành, sự kiêm nhiệm hai vai trò CEO và Chủ tịch hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên có chuyên môn tài chính - kế toán, số lượng thành viên nữ và độ tuổi trung bình của các thành viên.
  • Cơ cấu sở hữu: Mức độ tập trung quyền sở hữu, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý, tỷ lệ sở hữu nhà nước và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đánh giá tác động của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 499 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2018. Thông qua việc vận dụng Lý thuyết kế toán thực chứng và Lý thuyết đại diện, nghiên cứu đã chứng minh tính phù hợp vượt trội của mô hình Kasznik (1999) với hệ số $R^2 = 58,15%$ trong việc đo lường dồn tích có thể điều chỉnh tại Việt Nam. Điểm đóng góp nổi bật của luận án là phương pháp tiếp cận tách biệt hai xu hướng điều chỉnh lợi nhuận âm và dương dưới dạng giá trị tuyệt đối, giúp nhận diện rõ nét cơ chế tác động của đặc điểm hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu đối với từng hành vi cơ hội cụ thể. Các phát hiện định lượng thu được cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho các khuyến nghị chính sách gửi tới Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cơ quan thuế, ngân hàng, đơn vị kiểm toán và các nhà đầu tư trong việc hoàn thiện quản trị và minh bạch hóa thị trường vốn.