chương 1 cũng đã trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, các đóng góp của đề tài cũng như kết cấu dự kiến của đề tài. 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn của Doanh nghiệp (DN) là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì với một cấu trúc vốn tối ưu, DN vừa tối thiểu hóa được chi phí sử dụng vốn vừa tối đa hóa giá trị của DN. Vì vậy, hiện nay cũng có nhiều quan điểm giải thích về khái niệm về cấu trúc vốn của các nhà nghiên cứu thế giới và trong nước. Theo Macguigan và cộng sự (2006), sự kết hợp giữa các khoản nợ bao gồm nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường dùng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp chính là cấu trúc vốn của DN.
Còn theo Ahmad và các cộng sự (2012), cấu trúc vốn là tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của DN để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguyễn Minh Kiều (2014) cũng định nghĩa cấu trúc vốn DN là quan hệ theo tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động của DN. Phân tích cấu trúc vốn theo cách tiếp cận từ bảng cân đối kế toán của DN, cấu trúc vốn của DN được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần, bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu (Ngô Kim Phượng và các tác giả, 2013). Như vậy, về bản chất, các khái niệm về cấu trúc vốn không có nhiều khác biệt.
Cấu trúc vốn của DN có thể hiểu là sự kết hợp giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các hoạt động của DN. Trong đó: - Nợ (nợ phải trả): là các khoản tín dụng mà DN phải cam kết thanh toán nợ gốc và các chi phí sử dụng vốn cho các chủ nợ theo thời hạn xác định. Các khoản nợ này được phân loại theo thời gian bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn là những khoản vay nợ của DN có thời hạn từ 1 năm trở xuống, thường được dùng để đầu tư vào nhóm tài sản ngắn hạn.
Đặc điểm của nợ ngắn hạn là chi phí sử dụng vốn thấp nhưng lại tạo áp lực thanh toán cao đối với DN. Nợ ngắn hạn của DN thường bao gồm vay ngắn hạn, các khoản phải trả ngắn hạn, các khoản phải trả khác… Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn lớn hơn một năm, thường được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn thường xuyên, tài sản dài hạn. DN có thể huy động nợ dài hạn thông qua phát hành 7 trái phiếu doanh nghiệp hoặc vay nợ trung dài hạn tại các tổ chức tín dụng. Thông thường nợ dài hạn của DN là những khoản phải trả dài hạn, vay dài hạn… - Vốn chủ sở hữu: là loại vốn mà người chủ DN bỏ ra để được sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, do đó, nguồn vốn này không có cam kết thanh toán như nguồn nợ phải trả.
Lợi ích mà chủ sở hữu nhận được phụ thuộc lớn vào hiệu quả hoạt động của DN. Vốn chủ sở hữu của DN thường bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối, các khoản dự trữ… Để đo lường cấu trúc vốn của DN, chỉ tiêu thường được sử dụng là tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được sử dụng trong nghiên cứu của Antwi và các cộng sự (2012), Mohammad và các cộng sự (2013), Phạm Tiến Minh và Nguyễn Tiến Dũng (2015), Phan Thanh Hiệp (2016), Võ Minh Long (2018).Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của DN. Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản hay tổng nguồn vốn của DN.2 Chi phí khốn khó tài chính (financial distress costs) Khi tỷ số nợ gia tăng sẽ làm phát sinh ra một loại chi phí được gọi là chi phí khốn khó tài chính.
Chi phí khốn khó tài chính, theo Nguyễn Minh Kiều (2010), là một khái niệm mang tính lý thuyết, rất khó quan sát và xác định được, bao gồm chi phí khốn khó tài chính trực tiếp và chi phí khốn khó tài chính gián tiếp. Trong đó, chi phí khốn khó tài chính trực tiếp là những chi phí có thể xác định được như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho nhân viên trong thời gian chờ phá sản (Nguyễn Minh Kiều, 2010). Ngoài những chi phí khốn khó tài chính trực tiếp, công ty trong quá trình phá sản phải chịu nhiều chi phí khốn khó tài chính gián tiếp khó xác định như mất đi khách hàng, nhân viên giỏi…Như vậy, khi tỷ số nợ gia tăng đến một điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, làm cho giá trị công ty sử dụng nợ vay giảm dần.3 Lá chắn thuế Liên quan đến cấu trúc vốn của DN còn có khái niệm về lá chắn thuế. Trong cấu trúc vốn của DN được chia thành 2 nguồn là nợ và vốn chủ sở hữu.
Nếu phát hành cổ phiếu thì phần cổ tức trả cho cổ đông được lấy từ lợi nhuận ròng sau thuế nên cổ tức không được xem là một chi phí để được khấu trừ thuế. Trong khi đó, nếu DN sử dụng nợ thông qua vay vốn tại các tổ chức tín dụng hoặc phát hành trái phiếu sẽ phải trả lãi 8 vay. Chi phí lãi vay được tính vào chi phí trong quá trình hoạt động, làm giảm đi thu nhập phải chịu thuế của DN. Nói cách khác, việc gia tăng tỷ lệ nợ sẽ giúp DN được hưởng lợi từ lá chắn thuế hay là phần lợi thuế do doanh nghiệp sử dụng nợ vay.Đây là điều mà khi sử dụng vốn chủ sở hữu các DN không có được.
Vì vậy, lá chắn thuế cũng là một yếu tố mà DN cân nhắc khi lựa chọn cấu trúc vốn của DN. Giá trị của lá chắn thuế đối với DN phụ thuộc vào thuế suất thuế thu nhập DN và kết quả kinh doanh của DN.4 Thông tin bất đối xứng Tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra trong thị trường không hoàn hảo. Khái niệm về thông tin bất cân xứng lần đầu được đưa ra trong nghiên cứu của Akerlof George A. Theo Akerlof (1970), người bán sẽ là người nắm nhiều nhất thông tin về tài sản của mình nên không sẵn sàng bán tài sản đó cho bên mua thiếu thông tin.
Trong khi đó, người mua lại nghĩ rằng nếu người bán sẵn lòng bán ngày tài sản của họ với giá mà người mua đưa ra thì có nghĩa giá mua cao hơn giá trị của tài sản. Điều đó đồng nghĩa với tài sản được mua bán là tài sản có chất lượng xấu. Như vậy, vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán đã làm cho giá cả của tài sản trên thị trường bị đánh giá thấp. Liên quan đến cấu trúc vốn của DN, thông tin bất cân xứng ảnh hưởng đến việc phát hành cổ phiếu cũng như cân nhắc các nguồn vốn huy động của DN.
Cụ thể, theo lý thuyết về thông tin bất cân xứng, nhà quản lý DN sẽ có nhiều thông tin về hoạt động, rủi ro, triển vọng phát triển hơn so với các nhà đầu tư bên ngoài. Chính vì thiếu thông tin nên các nhà đầu tư thường sẽ định giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực tế của DN. Vì vậy, khi DN phát hành nhiều cổ phiếu sẽ có xu hướng làm giảm giá trị của các cổ phiếu đang lưu hành bởi sự chuyển giao giá trị giữa cổ đông mới và cổ đông cũ. Điều này làm cho các nhà quản lý DNcó xu hướng tránh phát hành thêm cổ phiếu mới khi cần tăng vốn, thay vào đó ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại hoặc vay vốn từ bên ngoài.
Trong nghiên cứu của Ross Stephen A. (1977) đã cho thấy các DN “tốt” sẽ hoạt động đầu tư phần lớn dựa vào nợ vay khi có nhu cầu tăng vốn. Hay trong nghiên cứu của mình, Myers và Majluf (1984) cho rằng DN chỉ phát hành thêm cổ phiếu khi và chỉ khi làm tăng giá trị cho các cổ đông hiện hữu sau khi đã tính các lợi ích cho cổ đông mới. 9 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DN 2.1 Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết M&M Đây là nghiên cứu khởi đầu cho các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại do Modiglani & Miller đưa ra năm 1958, tập trung xem xét mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị DN trong hai môi trường có thuế và không thuế.
Trong môi trường không có thuế, giá trị DN vay nợ và DN không vay nợ là như nhau. Còn trong môi trường có thuế, giá trị DN có vay nợ cao hơn giá trị DN không vay nợ do được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế. Theo lý thuyết M&M, DN được khuyến khích sử dụng nợ vay để tiết kiệm chi phí thuế. Tuy nhiên, lý thuyết này được xây dựng dựa trên các giả định không thực tế về thị trường hoàn hảo, mà ở đó không có chi phí kiệt quệ tài chính, không có chi phí giao dịch, nên đã hạn chế khả năng ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực tế.
Các nghiên cứu sau này đã tập trung nới lỏng các giả định của lý thuyết M&M để phát triển lý thuyết về cơ cấu vốn mang tính thực tế hơn.2 Lý thuyết đánh đổi cơ cấu vốn (Trade - off Theory) Lý thuyết đánh đổi về cơ cấu vốn được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) và sau đó được tiếp tục nghiên cứu bởi Myers (1984) đã giải thích được mặt hạn chế của lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của DN khi vay nợ. Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, DN sử dụng nợ sẽ được lợi ích tăng thêm từ lá chắn thuế của lãi vay, nhưng đánh đổi với lợi ích này là sự gia tăng chi phí kiệt quệ tài chính. Nhà quản trị DN có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị DN, mà ở đó lợi ích biên tăng thêm từ lá chắn thuế được cân bằng với chi phí biên tăng thêm của tình trạng khốn khó tài chính khi huy động thêm nợ.