Chương I: Giới thiệu Chương II: Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về tác động của chính sách cổ tức đến biến động giá cổ phiếu của các công ty. Chương III: Phương pháp nghiên cứu Ở phần này tác giả sẽ giới thiệu giả thuyết của bài nghiên cứu, mô tả mô hình nghiên cứu, thảo luận về dữ liệu, phạm vi, cỡ mẫu, cách đo lường các biến trong bài nghiên cứu, và các kỹ thuật thống kê xử lý số liệu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu Ở phần này tác giả trình bày phát hiện của các nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương V: Kết luận Ở phần này tác giả trình bày các kết luận đã được rút ra từ kết quả của nghiên cứu, các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
123doc 9 CHƯƠNG II TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY 2. Các nghiên cứu trên thế giới về tác động của chính sách cổ tức đến biến động giá cổ phiếu: • (Baskin, 1989) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu của các công ty tại Mỹ. Tác giả thêm một số biến kiểm soát để kiểm tra mối liên hệ giữa biến động giá cổ phiếu với suất sinh lợi cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức. Các biến kiểm soát là biến động lợi nhuận trước thuế và lãi vay, qui mô công ty, nợ và tốc độ tăng trưởng.
Các biến kiểm soát không chỉ tác động một cách rõ ràng đến biến động giá cổ phiếu mà còn tác động đến suất sinh lợi cổ tức. Ví dụ, biến động lợi nhuận trước thuế và lãi vay có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu và nó ảnh hưởng đến chính sách cổ tức tối ưu của các tập đoàn. Hơn nữa, với giả định rằng các rủi ro hoạt động là không đổi, tỷ lệ nợ có thể có tác động cùng chiều đến suất sinh lợi cổ tức. Qui mô công ty được kỳ vọng có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu.
Đó là, giá cổ phiếu của các công ty lớn thì ổn định hơn so với các công ty nhỏ vì công ty lớn có xu hướng đa dạng hóa đầu tư nhiều hơn. Hơn nữa, các công ty nhỏ có thông tin công bố ra bên ngoài hạn chế và vấn đề này có thể dẫn đến phản ứng phi lý của các nhà đầu tư. 123doc 10 Công trình nghiên cứu của (Baskin, 1989) dựa theo mô hình cơ sở là sự liên kết giữa cổ tức và rủi ro của chứng khoán. Mô hình về hiệu ứng thời gian, tỷ suất sinh lợi, kinh doanh chênh lệch giá, và thông tin.
(Baskin, 1989) đề xuất rằng sự thay đổi trong tỷ lệ chiết khấu có tác động ít đến cổ phiếu có tỷ lệ chi trả cổ tức cao bởi vì suất sinh lợi cổ tức cao có thể là một tín hiệu dòng tiền ngắn hạn nhiều hơn vì vậy các công ty có suất sinh lợi cổ tức cao được dự kiến sẽ có ít biến động trong giá cổ phiếu. Điều này sau đó được đặt tên là hiệu ứng thời gian. (Baskin, 1989) sử dụng mô hình tăng trưởng Gordon để chứng minh hiệu ứng này. Hơn nữa, Baskin giải thích rằng dựa trên tác động của tỷ suất sinh lời, các công ty có suất sinh lợi cổ tức thấp và tỷ lệ chi trả cổ tức thấp có thể được đánh giá có giá trị cao hơn giá trị tài sản hiện tại bởi vì các công ty này có các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Và cũng bởi vì dự báo về lợi nhuận từ các cơ hội tăng trưởng thì không chắc chắn như dự báo về lợi nhuận từ tài sản tại hiện tại, vì vậy công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức và suất sinh lợi cổ tức thấp được dự kiến sẽ có nhiều biến động trong giá cổ phiếu. Tác giả cũng đề xuất rằng suất sinh lợi cổ tức cao hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch giá cao hơn bởi vì lợi nhuận vượt trội phụ thuộc vào suất sinh lợi cổ tức và tỷ lệ giảm giá cổ phiếu. Baskin cho rằng các nhà quản lý có thể kiểm soát được biến động giá cổ phiếu và rủi ro cổ phiếu bằng chính sách cổ tức và phân phối cổ tức tại thời điểm công bố tình hình kinh doanh, lợi nhuận có thể được hiểu là tín hiệu về sự ổn định của công ty. (Baskin, 1989) nghiên cứu 2344 công ty Mỹ trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1986 trong đó bao gồm 183 công ty khai khoáng và dầu khí, 1074 công ty công nghiệp, 330 công ty tiện ích và đường sắt, 388 công ty tài chính, 230 công ty bán buôn bán lẻ và 139 công ty dịch vụ hoặc bệnh viện.
Kết quả 123doc 11 cho thấy có một mối tương quan ngược chiều đáng kể giữa suất sinh lợi cổ tức và biến động giá cổ phiếu hơn bất kỳ các biến nào khác ngay cả khi thêm vào các biến kiểm soát như quy mô, biến động lợi nhuận trước thuế và lãi vay, tỷ lệ nợ và tốc độ tăng trưởng thì ảnh hưởng đó cũng giảm không đáng kể. Điều đó chứng tỏ rằng cổ tức trên mỗi cổ phần ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu và cung cấp bằng chứng ủng hộ cho việc nhận ra chênh lệch giá và ảnh hưởng của thông tin khi đầu tư. Do đó, tác giả cho rằng chính sách cổ tức có thể được sử dụng để kiểm soát rủi ro trong biến động giá cổ phiếu. Baskin báo cáo rằng nếu suất sinh lợi cổ tức tăng thêm 1%, độ lệch chuẩn hàng năm của giá cổ phiếu giảm 2,5%.
• (Nazir et al., 2010) nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách chi trả cổ tức lên biến động giá cổ phiếu. Mẫu dữ liệu gồm 73 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2008. Tác giả áp dụng mô hình ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên để phân tích mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu cùng với các biến kiểm soát là quy mô, đòn bẩy, tăng trưởng và thu nhập. Kết quả phân tích cho thấy tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê.
Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng suất sinh lợi cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức có ảnh hưởng đáng kể đến biến động giá cổ phiếu. Nazir cũng cho biết qui mô công ty và đòn bẩy có tác động ngược chiều không đáng kể đến biến động giá cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu đáng tin cậy với thị trường chứng khoán mới nổi như Pakistan. 1996) nghiên cứu quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu tại Úc cho giai đoạn từ 1972 đến 1985 với mẫu dữ liệu gồm 173 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Úc.
Trái với kết quả nghiên cứu của Baskin(1989), tác giả không tìm thấy bằng chứng cho thấy suất sinh lợi cổ tức có tương quan với biến động giá cổ phiếu. Mặt khác, kết quả của bài nghiên cứu tìm ra mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và biến động giá cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy tương quan cùng chiều đáng kể giữa qui mô công ty và biến động giá cổ phiếu. Tuy nhiên biến động lợi nhuận trước thuế và lãi vay và nợ là những nhân tố quyết định chính đến biến động giá cổ phiếu.
Kết quả của bài nghiên cứu bác bỏ giả thuyết suất sinh lợi cổ tức tác động đến biến động giá cổ phiếu. • (Suleman et al., 2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu ở Pakistan. Tác giả trích xuất dữ liệu từ thị trường chứng khoán Karachi dựa trên năm lĩnh vực quan trọng cho giai đoạn từ 2005 đến 2009. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích.
Trái với kết quả nghiên cứu của (Baskin, 1989), phát hiện của bài nghiên cứu cho thấy biến động giá cổ phiếu có mối quan hệ cùng chiều đáng kể với suất sinh lợi cổ tức. Suleman cũng chỉ ra rằng biến động giá cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng. • (Hussainey et al., 2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu và chính sách cổ tức (suất sinh lợi cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức) tại Vương quốc Anh. Tác giả chọn mẫu gồm 123 công ty Anh và thời gian nghiên cứu từ 1998 đến 2007.
Nghiên cứu của tác giả dựa trên nghiên cứu của (Baskin, 1989). Tương tự như Baskin (1989), tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu với suất sinh lợi cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức. Tác giả cũng thêm các biến 123doc 13 kiểm soát như quy mô, tỷ lệ nợ, biến động lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng vào mô hình để kiểm tra mối quan hệ của chúng với giá cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa biến động giá cổ phiếu và tỷ lệ chi trả cổ tức và mối quan hệ ngược chiều giữa suất sinh lợi cổ tức và biến động giá cổ phiếu.
Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn thì giá cổ phiếu ít biến động hơn và tỷ lệ chi trả cổ tức là yếu tố quyết định đến biến động giá cổ phiếu; các biến nợ và qui mô công ty có mối quan hệ đáng kể với biến động giá cổ phiếu so với các biến kiểm soát khác, qui mô công ty có tác động ngược chiều đáng kể đến biến động giá cổ phiếu, qui mô công ty càng lớn thì giá cổ phiếu càng ít biến động, ngược lại nợ và biến động giá cổ phiếu có mối quan hệ cùng chiều. Phát hiện của bài nghiên cứu thì khác với phát hiện trong bài nghiên cứu của Baskin (1989), theo bài nghiên cứu thì tỷ lệ chi trả cổ tức là yếu tố quyết định đến biến động giá cổ phiếu trong khi đó Baskin thì phát hiện ra rằng suất sinh lợi cổ tức là yếu tố quan trọng quyết định đến biến động giá cổ phiếu. Các nghiên cứu về tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiểu của công ty: • (Miller và Modigliani, 1961) đã đưa ra lý thuyết cổ tức trong một thị trường hoàn hảo, không có thuế và chi phí giao dịch. MM lập luận rằng quyết định chia cổ tức không có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp, giá trị của một doanh nghiệp chỉ do các quyết định đầu tư ấn định và tỷ lệ chi trả cổ tức chỉ là một chi tiết.