Đặt vấn đề nghiên cứu - Thực hiện một chính sách chi trả cổ tức như thế nào vẫn đang là một trong mười câu hỏi chưa có được đáp án trong lĩnh vực tài chính. Tuy có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức tại các quốc gia phát triển, song với các nền kinh mới nổi thì các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức có thể không giống nhau, vì phong tục tập quán, thông tin ít hiệu quả hơn, mô hình quản trị doanh nghiệp, thuế và các yếu tố khác của nền kinh tế. Glen et al 1995 cũng đã tìm thấy có sự khác biệt trong chính sách cổ tức giữa thị trường mới nổi và thị trường phát triển,trong khi đó (Aivazian et al 2003) đã so sánh mẫu của các công ty hoạt động trên 8 thị trường mới nổi và 99 công ty tại Mỹ và có kết luận ngược lại với nghiên cứu của Glen et al (1995), vì ông cho rằng tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty ở thị trường mới nổi cũng tương đương với các công ty tại Mỹ. Điều này đã làm tăng sự tranh cãi về chính sách cổ tức.
- Lý thuyết “ The bird in the hand” của Myro Gordon và John Lintner đã được đưa ra để các nhà quản lý có chính sách cổ tức tối ưu. Là lý thuyết ưa chuộng những điều gì xảy ra trong hiện tại. Theo lý thuyết này thì những việc giữ lại lợi nhuận, không chi trả cổ tức và tái đầu tư là yếu tố không chắc chắn. Công ty nên thiết lập tỷ lệ chi trả cổ tức cao để tối đa hoá giá trị cổ phiếu.
Do đó “the bird in the hand explanation” khẳng định là chi trả cổ tức cao làm tăng giá trị của công ty vì cổ tức đại diện cho điều gì đó là chắc chắn. - Lý thuyết thị trường hiệu quả đã đưa ra mối liên hệ giữa tập hợp những thông tin đang có trong thị trường với giá cổ phiếu. Lý thuyết cho rằng giá cả hoàn toàn được định giá dựa trên những thông tin đang có. Và do đó, không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã có hay những hình thái biến động của giá trong quá khứ.
Những thông tin này bao gồm các thông báo, bảng cáo bạch, các chỉ số tài chính ( EPS, ROE, ROI…) và những thông tin khác được công ty công bố. Và một trong những thông báo quan trọng của công ty đó là công bố tỷ lệ chi trả cổ tức. 123doc 4 - Và chính sách cổ tức tác động đến giá trị công ty hay không đã được Miller và Modigliani (1961) với giả thiết một thị trường hào hảo gồm các điều kiện không thuế, không chi phí chuyển đổi, theo hai ông thì chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. Với một đồng chi cho cổ tức thì nó tương ứng nó sẽ làm giảm giá cổ phiếu xuống 1 đồng, đồng thời giá trị của doanh nghiệp cũng giảm tương ứng với cổ tức.
Đó là quan niệm của trường phái trung dung. Tuy nhiên, điều kiện mà Mill và Modigliani đưa ra là những yếu tố không thể có trong thế giới hiện tại. - Sự khác biệt giữa hai môi trường kinh tế đã đưa đến những kết quả không tương đồng nhau trong các nghiên cứu giữa thị trường mới nổi và thị trường phát triển. Song, thị trường chứng khoán của các nước mới nổi cũng là một thị trường còn đang phát triển, vì thế ở một mức độ nào đó, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ có sự tương tự.
Vì vậy, cơ sở lý thuyết và mô hình trong nghiên cứu này được dựa theo một số các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi như Ấn Độ, Ả Rập, Jordan, Pakistan, Singapore, Indonesia…. - Môi trường kinh tế khác nhau sẽ tác động lên các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức, song song với nó, sự khác biệt giữa các ngành cũng sẽ có những tác động nhất định với chính sách cổ tức. Do đặc điểm từng ngành khác nhau, nên nhu cầu vốn cũng khác nhau, vì thế cũng sẽ khác nhau theo từng ngành đối với yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định cho chính sách cổ tức. - Thông qua các nghiên cứu trước tại thị trường mới nổi, bài nghiên cứu này muốn tìm kiếm xem chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu hay không bằng cách thông qua công bố cổ tức và lợi nhuận bất thường của trước và sau khi công bố được đưa tới thị trường thông qua các dữ kiện của ngành công nghiệp và hàng tiêu dùng được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Đồng thời tìm các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức, thông qua ảnh hưởng của công bố cổ tức để xem các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức có được truyền đến nhà đầu tư khi cổ tức tăng hay giảm không? 123doc 5 1.2 Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu này tập trung vào 2 mục tiêu: - Chính sách cổ tức có truyền tải thông tin và tác động thay đổi giá của cổ phiếu không. - Phân tích ảnh hưởng của các yếu tác động đến chính sách cổ tức, gồm có 7 biến: tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ đòn bẩy, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, quy mô công ty, dòng tiền thuần, rủi ro.3 Câu hỏi nghiên cứu - Khi cổ tức được công bố tăng/giảm, giá cổ phiếu có tăng/giảm không? - Trong 7 yếu gồm tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ đòn bẩy, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, quy mô công ty, dòng tiền thuần, rủi ro, sự tác động của 7 biến trên đến chính sách cổ tức như thế nào? 1.4 Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng của 135 công ty thuộc ngành công nghiệp và hàng tiêu dùng đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP HCM từ 2006 đến 2012 1.5 Dữ liệu - Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính tại website www.com trong 6 năm từ 2006 đến 2012. Các biến số trong mô hình được xây dựng từ báo cáo tài chính hàng năm cho tất cả các công ty trong mẫu nghiên cứu của hai ngành gồm ngành công nghiệp và ngành hàng tiêu dùng.6 Phương pháp nghiên cứu - Sử dụng phương pháp Event Study để xem xét chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu thông qua công bố của cổ tức. - Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy đa biến để định lượng các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức trong ngành công nghiệp và hàng tiêu dùng.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài - Với thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam, nghiên cứu xem chính sách cổ tức có tác động đến giá trị của cổ phiếu hay không và các nhân tố nào có tác 123doc 6 động đến quyết định chính sách cổ tức của các nhà quản trị là vô cùng quan trọng.
Trong những giai đoạn khác nhau, thì các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức và giá của cổ phiếu sẽ khác nhau. Vì thế kết quả của nghiên cứu này sẽ đóng góp làm nền tảng cho các nghiên cứu trong tương lai. - Song song đó, nghiên cứu sẽ giúp giám đốc tài chính lựa chọn chính sách cổ tức phù hợp với cổ đông và nâng cao giá trị của cổ phiếu.8 Kết cấu của nghiên cứu: - Bài nghiên cứu được trình bày như sau - Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận 123doc 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY - Chính sách cổ tức là một trong những đối tượng được tranh luận kể từ khi lý thuyết Miller và Modigliani (1961), ra đời với các giả thiết chỉ có trong thị trường hoàn hảo như không thuế, không chi phí chuyển đổi, mọi thông tin đều được công khai thì chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp hay giá cổ phiếu. Tuy nhiên, lý thuyết Miller và Modigliani (1961)cũng thừa nhận rằng chính sách cổ tức có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp nếu một trong các giả thiết bị vị phạm.
Thực tế là môi trường không đạt được hết những giả thiết của Miller và Modigliani (1961) nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra các lý thuyết ngược lại của hai ông. Điển hình là lý thuyết “the bird in hand” của Gordon (1959). - Gordon (1959) đã đưa ra lý thuyết “ the bird in hand”. Ông cho là cổ tức nhận giá trị tương lai là điều không chắc chắn, cổ đông thích những điều chắc chắn dưới dạng cổ tức vì thế những cố phiếu có cổ tức cao sẽ có giá cao hơn những công ty chi trả cổ tức thấp.
- Trong những thập niên 70 và 80, một vài nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về mối liên hệ giữa thuế và chính sách cổ tức ( Litzenberger và Ramaswamy 1979; John và Williams 1985; Poterba và Summers 1984, Miller và Rock 1985, Ambarish et al 1987, Pettit 1972). Giả thuyết này cho là cổ tức bị đánh thuế cao hơn lợi nhuận vốn cổ phần, cổ tức sẽ bị đánh thuế trực tiếp, trong khi thuế của vốn cổ phần thì chỉ phải đóng khi cổ phần được bán. Do đó, các nhà đầu tư ưa thích công ty giữ lại lợi nhuận hơn là phân phối dưới dạng tiền mặt. Với sự thuận tiện vì không bị đánh thuế ngay của vốn cổ phần, nên nhà đầu tư thích chi trả cổ tức thấp thay vì trả cổ tức cao.
Một sự giải thích khác cho chính sách cổ tức đó là chi phí chuyển đổi và lý thuyết phần dư. Lý thuyết này cho rằng các công ty phải gánh chịu chi phí chuyển đổi lớn, vì thể việc cắt giảm cổ tức để tránh các chi phí tài chính trên (Mueller 1967, Crutchley và Hansen 1989, 123doc 8 Alli et al 1993). Đồng thời, một giải thích liên quan đến chi phí đại diện, trong trường hợp này, chi phí đại diện là chi phí chi ra cho hoạt động quản lý công ty để tránh các hành vi không phù hợp. Chi trả cổ tức cao giảm các dòng tiền bên trong, để các nhà quản lý nổ lực tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài và tiếp đó, tạo cho họ tìm đến các nhà cung cấp vốn, do đó, sẽ giảm được chi phí đại diện.
(Rozeff 1982; Easterbrook 1984; Crutchley và Hansen 1989; Dempsey và Laber 1992; Saxena 1999) - Bhattacharya (1979) đã cho rằng cố tức là một dấu hiệu và dòng tiền mong đợi trong thị trường không hoàn hảo và cổ tức là công cụ tiền để truyền tải thông tin bất cân xứng với cổ đông về khả năng hoạt động kinh doanh của công ty trong tương lai.