Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU 2. Thị trường chứng khoán Theo Longman Dictionary of Business English (1985), thị trường là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những nguyên tắc cố định. TTCK là nơi mà cung và cầu của các loại chứng khoán gặp nhau để xác định giá cả, số lượng của từng loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường.
Theo khoản 18 điều 6 Luật Chứng Khoán Số 70/2006/QH 11 “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán” Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), TTCK là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,… Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính gồm hộ gia đình, DN, các tổ chức tài chính trung gian và Chính phủ là những người tham gia mua và bán các loại tài sản tài chính. TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ NĐT sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Hàng hóa được giao dịch trên TTCK như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền. Các lý thuyết về giá cổ phiếu Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (The Random Walk Theory) Lý thuyết Bước Đi Ngẫu Nhiên (Random Walk) nói rằng sự vận động của giá cả trên TTCK sẽ không đi theo bất kì một khuôn mẫu hay một xu hướng nào đã từng có trước đây.
Và do đó những biến động giá trong quá khứ sẽ không thể sử dụng được trong việc dự đoán những bước đi tiếp theo của chú bò này trong tương lai. 6 Năm 1973, Burton Malkiel viết quyển sách "A Random Walk Down Wall Street", thì lý thuyết bước đi ngẫu nhiên bắt đầu trở nên phổ biến. Quyển sách này có thể được xem như một trong những lý thuyết đầu tư kinh điển nhất trên TTCK. Lý thuyết cho rằng sự thay đổi giá của một chứng khoán riêng lẻ bất kỳ hay chỉ số chứng khoán của cả thị trường trong quá khứ đều không thể dùng để dự báo cho sự thay đổi trong tương lai.
Trước đó, năm 1953, Maurice Kendall là người đầu tiên đưa lý thuyết này. Kenall cho rằng các thay đổi trong giá chứng khoán là tác động lẫn nhau và các khả năng thay đổi có thể xuất hiện với cùng một xác suất như nhau, thế nhưng qua thời gian, giá chứng khoán dường như luôn có xu hướng tăng. Trong quyển sách của mình, Malkiel cũng cho thấy cả phân tích kỹ thuật lẫn phân tích cơ bản chỉ làm lãng phí thời gian của chúng ta mà thôi. Malkiel tiếp tục cho biết chiến lược mua và nắm giữ trong dài hạn là tốt nhất.
Sẽ là rất vô ích nếu các NĐT riêng lẻ nỗ lực để tiên đoán thị trường. Những nỗ lực dựa trên phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và những phân tích khác đều vô ích. Cùng với những thống kê của mình, ông đã chứng minh rằng hầu hết các quỹ hỗ tương đều thất bại trong việc nỗ lực đánh thắng mức trung bình chuẩn của thị trường như chỉ số S&P 500. Trong khi có rất nhiều người tin theo lý thuyết của Malkiel, một số khác lại tin rằng toàn cảnh của việc đầu tư rất khác với những gì Malkiel viết trong quyển sách của ông cách đây gần 30 năm.
Ngày nay, mỗi người đều dễ dàng tiếp cận với những thông tin chính xác và định giá chứng khoán một cách hợp lý. Đầu tư không còn là một trò chơi của sự may rủi. Như vậy, khó để nói rằng lý thuyết bước đi ngẫu nhiên đúng đến mức độ nào. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của thuyết bước đi ngẫu nhiên không phải là giá cả không tuân theo quy luật nào cả.
Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene Fama năm 1960. Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thị trường tài chính là hiệu quả (Efficient), giá của chứng khoán trên thị trường tài chính phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã công bố. Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Có thể nói một cách ngắn gọn là các NĐT không thể khôn ngoan hơn thị trường.
7 Lý thuyết thị trường hiệu quả chia làm 3 dạng: Dạng yếu (Weak Form), dạng bán-mạnh (Semi-Strong Form) và dạng mạnh (Strong Form). Thị trường hiệu quả yếu, giá chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin đã công bố trong quá khứ (nghĩa là dựa vào thông tin trong quá khứ thì nhà đầu cơ không thắng được thị trường). Thị trường hiệu quả trung bình, giá chứng khoán đã chịu tác động đầy đủ của thông tin công bố trong quá khứ cũng như thông tin vừa công bố xong. Nhà đầu cơ không thể dựa vào thông tin trong quá khứ cũng như thông tin vừa được công bố để có thể mua rẻ bán đắt chứng khoán, vì ngay khi thông tin được công bố, giá chứng khoán đã thay đổi phản ánh đầy đủ thông tin vừa công bố.
Thị trường hiệu quả mạnh, giá của chứng khoán đã phản ánh tất cả thông tin công bố trong quá khứ, hiện tại, cũng như các thông tin nội bộ (Insider). Lý thuyết này được chấp nhận rộng rãi cho đến những năm 1990 thì bị đặt câu hỏi, khi kinh tế học tài chính hành vi nổi lên được chấp nhận rộng rãi. Giả thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra đúng với những cổ phiếu riêng rẽ chứ không hoàn toàn đúng đối với toàn bộ thị trường. TTCK trong dài hạn có những biến động tự đảo ngược rõ rệt mà nhiều nhà kinh tế học cho rằng đó là kết quả của tâm lý chung của hầu hết những người tham gia thị trường.
Khi thị trường bị ảnh hưởng bởi làn sóng tâm lý thì trên góc độ vĩ mô không một nỗ lực cá nhân nào có đủ nguồn lực để đảo ngược. Những hạn chế này của giả thuyết thị trường hiệu quả đã thúc đẩy các nghiên cứu đưa đến lý thuyết kinh tế học hành vi nói chung và tài chính hành vi học nói riêng. Chỉ số giá cổ phiếu Theo Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013), “Chỉ số TTCK là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu. Nó được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định.
Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những điểm chung như cùng niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường”. Theo tổng cục thống kê “Chỉ số giá chứng khoán là số tương đối biểu hiện (bằng điểm), bằng sự quan hệ so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân kỳ nghiên cứu (hiện tại) với giá bình quân kỳ gốc đã chọn (thường coi là 100 hoặc 1000). Chỉ số chứng khoán được 8 cấu thành bởi 2 yếu tố là loại chứng khoán (trọng số) và giá của từng chứng khoán cấu thành.” Theo Bùi Kim Yến (2006) “Chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường”. Như vậy, chỉ số giá chứng khoán phản ánh sự biến động về giá của cổ phiếu trên TTCK tại thời điểm so sánh với thời điểm gốc.
NĐT có thể dễ dàng phân tích và đánh giá được biến động TTCK hàng ngày vì thông tin chỉ số giá chứng khoán được công bố rộng rãi trên sàn giao dịch chứng khoán và từ các phương tiện truyền thông đại chúng. Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu Hiện nay có các phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc tính chỉ số giá cổ phiếu như phương pháp Passcher, phương pháp Laspeyres, phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher, phương pháp số bình quân đơn giản, phương pháp bình quân nhân đơn giản. Phương pháp Passcher Đây là loại chỉ số giá thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kì tính toán: ∑𝑛𝑖=1(q𝑡 𝑥 q𝑡 ) Ip = 𝑛 ∑𝑡=1(q𝑡 𝑥 q0 ) Trong đó: Ip: Chỉ số giá Passcher pt: Giá thời kỳ t p0: Giá thời kỳ gốc qt: Khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán i: Số cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n: Số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền, giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính toán sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) vào thời kỳ tính toán. Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P 500 (Mỹ), ETSE 100 (Anh), TOPIX (Nhật), CAC (Pháp), TSE (Đài Loan), 9 Hangseng (Hong Kong) và của Việt Nam áp dụng phương pháp này để tính chỉ số giá cổ phiếu.
Phương pháp Laspeyres Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy, kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc. ∑ni=1 q0 x qt IL = n ∑i=1 q0 x q0 Trong đó: IL: Chỉ số giá bình quân Laspeyres Pt: Giá thời kỳ t P0: Giá thời kỳ gốc q0: Khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng (số lượng cổ phiếu niêm yết) thời kỳ gốc. i: Số cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n: Số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Có ít quốc gia sử dụng phương pháp này, có thể tham khảo chỉ có chỉ số FAZ, DAX của Đức.
Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher Chỉ số bình quân Fisher là chỉ số bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres IF = √IP x IL Trong đó: IF: Là chỉ số giá Fisher Ip: Là chỉ số giá Passcher I L: Là chỉ số giá bình quân Laspayres Theo thống kê chưa thấy quốc gia nào sử dụng phương pháp tính chỉ số giá này.