Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này tập trung giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, cấu trúc và điểm mới của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách tiền tệ đến thị trường chứng khoán. Chương này trình bày lý thuyết tổng quan về chính sách tiền tệ, thị trường chứng khoán cũng như cơ sở lý thuyết về tác động của CSTT đến giá cổ phiếu và thanh khoản TTCK.
Đồng thời, giới thiệu một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này giới thiệu về phương pháp nghiên cứu và mô hình định lượng được sử dụng nhằm đánh giá tác động của chính sách tiền tệ đến giá cổ phiếu và thanh khoản TTCK Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trong chương này trình bày kết quả từ các mô hình hồi quy và phân tích kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ tác động của CSTT đến TTCK Việt Nam. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách. Chương này trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được, từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho nhà hoạch định chính sách tiền tệ. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Trong chương này trình bày các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tiền tệ, thị trường chứng khoán và tác động của các biến số chính sách tiền tệ đến giá cổ phiếu cũng như thanh khoản thị trường chứng khoán.
Đồng thời, tổng hợp kết quả của một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam, từ đó làm cơ sở để lựa chọn mô hình nghiên cứu ở các chương tiếp theo.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2.1 Chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng giúp nhà điều hành đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra, trong đó CSTT được thực thi bởi NHTW. Theo (Mishkin, 2013) CSTT là quá trình quản lý cung tiền của NHTW nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Các NHTW cũng có quan niệm tương tự các nhà nghiên cứu khi điều hành CSTT, chẳng hạn như FED quan niệm CSTT là những hành động tác động vào tính sẵn có và chi phí của tiền và tín dụng nhằm đạt được những mục tiêu được Quốc hội lựa chọn (Labonte và Makinen, 2008); NHTW Châu Âu xác định CSTT là những hành động được NHTW thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ chính sách nhằm đạt được các mục tiêu sách mà cụ thể là ổn định giá cả với mức lạm phát mục tiêu là 2% (European Central Bank, 2016). Còn theo luật NHNN Việt Nam năm 2010, CSTT được qui định là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao 10 gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.
Như vậy, CSTT đang được các nhà nghiên cứu và nhà điều hành chính sách quan niệm thống nhất là quá trình NHTW sử dụng các công cụ để điều tiết cung tiền, tín dụng và lãi suất trong nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu về ổn định giá trị đồng tiền, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ CSTT thông thường có ba loại mục tiêu: mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động. Trong đó, mục tiêu cuối cùng cho biết đích đến cuối cùng của điều hành CSTT; mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động còn được gọi là các mục tiêu điều hành được xác định trong mối quan hệ mật thiết với mục tiêu cuối cùng nhằm hỗ trợ đạt mục tiêu cuối cùng (Hình 2. Mối liên hệ giữa các mục tiêu và công cụ của CSTT Công cụ của NHTW Mục tiêu hoạt động Mục tiêu trung gian Mục tiêu cuối cùng - Khối tiền tệ -Ổn định tiền tệ (M1, M2, -Tăng trưởng kinh - Nghiệp vụ thị - Tiền cơ sở; M3) tế trường mở - Lãi suất thị - Việc làm cao -Lãi suất liên trường (ngắn - Ổn định thị trường - Tái chiết khấu hạn hoặc dài ngân hàng tài chính hạn) - Ổn định lãi suất -Dự trữ bắt buộc - Ổn định thị trường ngoại hối Nguồn: Mishkin (2013) - Mục tiêu cuối cùng Chính sách tiền tệ là một bộ phận chính sách kinh tế của nhà nước do đó mục tiêu của chính sách tiền tệ thường gắn liền với mục tiêu chung của quốc gia đó. Các nhà kinh tế học như Mishkin (2013), Cecchetti và ctg (2015) đều cho rằng các mục tiêu cuối 11 cùng thường được các NHTW lựa chọn bao gồm: ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, việc làm cao, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và các định chế tài chính, ổn định tỷ giá.
Ổn định tiền tệ Theo Cecchetti và ctg (2015) ổn định tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và ổn định giá cả. Sức mua của tiền tệ là lượng hàng hóa mà một đồng tiền có thể trao đổi được, đồng tiền trao đổi được càng nhiều hàng hóa, nó càng có giá trị và ngược lại. NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó giúp việc dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô dễ dàng hơn.
Một mức lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả (Mishkin, 2013). Lạm phát cao hay thiểu phát đều tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Nếu lạm phát ở mức cao sẽ hạn chế đầu tư, chi tiêu tiêu dùng và làm sai lệch thông tin dự báo. Ngoài ra, sự bất ổn định giá cả sẽ dẫn đến phân phối lại nguồn lực của các chủ thể trong xã hội một cách không công bằng.
Tuy nhiên, nếu thiểu phát xảy ra cũng sẽ làm cho nền kinh tế trì trệ, không khuyến khích sản xuất, đầu tư và có thể dẫn đến suy thoái kinh tế. Việc lựa chọn lạm phát làm mục tiêu khiến NHTW tập trung vào tính ổn định của nền kinh tế và giúp giá cả được kiểm soát ngay khi có những cú sốc trong nền kinh tế. Ngoài ra, lạm phát là chỉ tiêu dễ hiểu đối với công chúng và có tính minh bạch cao. Hơn nữa, việc đưa ra một tỷ lệ lạm phát cụ thể làm tăng trách nhiệm của NHTW, tránh việc bằng mọi cách thúc đẩy kinh tế tăng trưởng thông qua thực thi chính sách tiền tệ mở rộng.
Tuy nhiên, việc sử dụng mục tiêu lạm phát dẫn đến chậm trễ trong việc phát ra tín hiệu trực tiếp cho công chúng và toàn bộ thị trường về thực trạng của chính sách tiền tệ. Việc theo đuổi mục tiêu lạm phát ở mức quá thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của nền kinh tế, làm suy giảm tổng sản lượng và tốc độ tăng trưởng GDP (Miller và VanHoose, 2001). 12 Tăng trưởng kinh tế Mặc dù lưu thông hàng hóa quyết định đến lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Tuy nhiên, NHTW có thể sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ tác động trở lại nhằm kích thích kinh tế tăng trưởng.
Theo Cecchetti và ctg (2015) NHTW có thể tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp thông qua điều chỉnh lãi suất. Tuy nhiên, trong dài hạn để gia tăng mức sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào công nghệ, quy mô vốn tích tụ, lực lượng lao động và tài nguyên của quốc gia. Khi nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, NHTW có thể duy trì mức lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư… từ đó hỗ trợ kinh tế phục hồi. Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển quá nóng, NHTW tác động làm gia tăng lãi suất từ đó giảm tiêu dùng, giảm đầu tư, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Theo Cecchetti và ctg (2015) điều quan trọng là việc duy trì một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao sẽ khó ổn định. Khi đó rủi ro cho nhà đầu tư trên thị trường gia tăng sẽ kéo theo sự tăng lên của lãi suất. Vì vậy, nền kinh tế ổn định sẽ dẫn đến tăng trưởng nếu xét trong dài hạn. Việc làm cao Công ăn việc làm được tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc rất lớn vào tình hình tăng trưởng kinh tế.
Khi nền kinh tế ở trong giai đoạn tăng trưởng, việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp giảm và ngược lại khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Mức việc làm cao là mục tiêu được quan tâm hàng đầu là vì: (i) thất nghiệp cao gây ra tình trạng khó khăn về tài chính cho cá nhân và gia đình của họ và là mầm mống nảy sinh các tệ nạn trong xã hội; (ii) thất nghiệp cao sẽ gây áp lực lên cơ cấu chi tiêu của ngân sách nhà nước và làm lãng phí các nguồn lực khác trong xã hội (máy móc thiết bị không được khai thác hết công suất) dẫn tới tổn thất về sản lượng (Mishkin, 2013). 13 Tuy nhiên, tạo công ăn việc làm không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0. Tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế thường được xác định theo tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp tương ứng với mức toàn dụng mà tại đó cầu về lao động bằng cung về lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp tạm thời nảy sinh là do người lao động cần có thời gian để tìm kiếm được việc làm thích hợp. Tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu xảy ra do không phù hợp giữa yêu cầu của việc làm và kỹ năng lao động sẵn có của lực lượng lao động. Chính sách tiền tệ chỉ có thể tác động làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tạm thời từ đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong nền kinh tế.