PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO NGHIÊN CỨU Thị trƣờng chứng khoán (TTCK) Việt Nam, trải qua chặng đƣờng hình thành và phát triển đầy gian nan và thử thách, đã và đang có những bƣớc tiến quan trọng trong hội nhập quốc tế, ngày càng lớn mạnh cả về quy mô và chất lƣợng, trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng và không thể thiếu đối với nền kinh tế. Năm 2016, TTCK Việt Nam lọt vào “top” 5 thị trƣờng có mức tăng trƣởng cao nhất tại khu vực Đông Nam Á, tổng mức huy động vốn trên TTCK đạt 348 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trƣớc đến nay. Từ 2 doanh nghiệp niêm yết ban đầu, tính đến hết tháng 6/2017, toàn thị trƣờng đã có 714 doanh nghiệp niêm yết và 580 doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên cả 2 sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Nền kinh tế vĩ mô trong nƣớc năm 2017 tiếp tục ổn định và có nhiều dấu hiệu tăng trƣởng tích cực. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), dự kiến mức tăng trƣởng GDP trong năm 2017 của Việt Nam là khoảng 6,3%. Theo đó, Việt Nam sẽ tiếp tục đƣợc nhìn nhận nhƣ một điểm đến hấp dẫn cho rất nhiều tổ chức tài chính, nhà đầu tƣ, đặc biệt là nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Hiện nay, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đang rất quan tâm đến TTCK Việt Nam bởi tiềm năng lợi ích mà nó mang lại.
Thực tế, TTCK Việt Nam đã đón nhận sự đầu tƣ của các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài từ khá lâu. Đây đƣợc xem là kênh đầu tƣ quan trọng trên TTCK nhƣng do những rào cản về mặt cơ chế, chính sách cũng nhƣ quy mô của thị trƣờng khiến nhà đầu tƣ ngoại còn tỏ ra dè dặt khi rót vốn vào TTCK Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định TPP đã đánh dấu một bƣớc tiến mới của TTCK Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế từ sau giai đoạn WTO, với các cam kết mở cửa thị trƣờng ở mức cao đi kèm với cơ chế minh bạch hóa, kết hợp với các biện pháp của chính phủ nhằm đảm bảo môi trƣờng chính trị - xã hội ổn định, bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tƣ. Tất cả đều nhằm mục đích tạo cơ hội tiếp cận thị trƣờng tốt hơn cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài.
Có thể thấy, trong đa số các trƣờng hợp biến động về giá cổ phiếu, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài dƣờng nhƣ luôn giữ một vị thế độc lập và tách rời hẳn tâm lý đám 123doc 2 đông so với các nhà đầu tƣ trong nƣớc. Động thái mua bán của khối ngoại cũng đặc biệt và khác biệt với nhà đầu tƣ nội. Vì vậy, trên thị trƣờng đôi khi quan sát thấy hiện tƣợng nhà đầu tƣ nƣớc ngoài mua vào trong khi nhà đầu tƣ trong nƣớc đổ xô ra bán. Hoặc khi nhà đầu tƣ trong nƣớc án binh bất động vào những thời điểm thị trƣờng sụt giảm mạnh, thì nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vẫn tiến hành các hoạt động giao dịch.
Điều này thể hiện sự tự tin của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trƣớc sự biến động của thị trƣờng, vì chỉ cần nhìn đồ thị kết hợp các kỹ thuật phân tích là họ tin rằng có thể thấy đƣợc quy luật lên xuống của giá một số cổ phiếu. Thời gian vừa qua, TTCK trong nƣớc chịu ảnh hƣởng từ nhiều yếu tố chi phối mang tính quốc tế nhƣ bất ổn kinh tế Trung Quốc, tác động từ các chính sách của Mỹ, việc nâng lãi suất của FED, giá dầu thế giới lao dốc… Các yếu tố này ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, câu chuyện thoái vốn nhà nƣớc của các doanh nghiệp lớn trong nƣớc, các vấn đề về định giá và tỷ giá…cũng là mối quan tâm của khối ngoại khi đầu tƣ vào thị trƣờng tài chính của các nền kinh tế mới nổi với đặc trƣng biến động giá chứng khoán cao. Trong tiến trình xây dựng môi trƣờng đầu tƣ tốt cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, TTCK Việt Nam cần đặt ra nhiều giải pháp hơn nữa, trƣớc mắt là quá trình nỗ lực để đƣợc nâng hạng thị trƣờng từ nhóm thị trƣờng cận biên (frontier market) lên thị trƣờng mới nổi (emerging market).
Rõ ràng là khi tiến lên “phân khúc” thị trƣờng mới nổi, cơ hội đƣợc các tổ chức lớn phân bổ vốn đầu tƣ sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến các giới hạn sở hữu cho nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Từ việc hạn chế quyền sở hữu đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, bằng nghị định số 60/2015/NĐ-CP ban hành ngày 26/06/2015, Chính phủ Việt Nam đã cho phép tỷ lệ sở hữu nƣớc ngoài tại các công ty niêm yết và công ty đại chúng tăng từ 49% lên 100%, trừ một số trƣờng hợp hạn chế theo quy định của pháp luật. Kỳ vọng Chính phủ sẽ tiếp tục ban hành các chính sách kích thích, hỗ trợ hoạt động nới room của doanh nghiệp trong năm 2017, thúc đẩy sự sôi động của TTCK, đặc biệt ở các ngành nhƣ ngân hàng, bảo hiểm, săm lốp, dệt may, nhựa, thực phẩm đồ uống… 123doc 3 Từ trƣớc đến nay, tuy đã có nhiều nghiên cứu xem xét về mối quan hệ giữa sở hữu nƣớc ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu nhƣng các bằng chứng thực nghiệm tìm thấy chƣa đạt đƣợc sự đồng thuận.
Đặc biệt các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy một khoảng trống nghiên cứu khi chỉ tập trung vào khía cạnh sở hữu nƣớc ngoài mà không xem xét một cơ cấu sở hữu hoàn chỉnh, chi tiết bao gồm sự phân hóa sở hữu nƣớc ngoài thành sở hữu của tổ chức nƣớc ngoài và sở hữu cá nhân nƣớc ngoài, cùng cơ cấu sở hữu của cổ đông trong nƣớc (bao gồm nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân) để có thể đánh giá một cách toàn diện và chính xác hơn về vấn đề này. Đây cũng chính là lý do và động lực thôi thúc tác giả thực hiện đề tài “Sở hữu nƣớc ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” với một cơ cấu sở hữu hoàn chỉnh trong và ngoài nƣớc nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn về mối quan hệ giữa sở hữu nƣớc ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu Việt Nam, từ đó đƣa ra các gợi ý chính sách giúp khai thác tối đa nguồn ngoại lực này và nâng cao công tác quản lý TTCK Việt Nam trong thời gian tới.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu: - Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu nƣớc ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu: - Sở hữu nƣớc ngoài có tác động đến biến động lợi nhuận cổ phiếu trên TTCK Việt Nam hay không? Nếu có thì tác động là cùng chiều hay ngƣợc chiều? 123doc 4 1.3 VẤN ĐỀ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác động của sở hữu nƣớc ngoài đến biến động lợi nhuận cổ phiếu của 165 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2008 – 2016.4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa vào bài nghiên cứu gốc của Zhian Chen và cộng sự (2013) kết hợp với nền tảng cơ sở lý thuyết từ các tài liệu đƣợc thu thập để xem xét mối quan hệ giữa sở hữu nƣớc ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu. Mẫu dữ liệu bao gồm 165 công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2008 – 2016, áp dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng sử dụng các phƣơng pháp ƣớc lƣợng bao gồm: bình phƣơng tối thiểu cổ điển gộp Pooled OLS, tác động cố định FEM, tác động ngẫu nhiên REM cũng nhƣ các kiểm định Hausman và Reduntdant Test để so sánh và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Cấu trúc bài nghiên cứu bao gồm năm chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng 2: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và gợi ý chính sách 123doc 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Các khái niệm sở hữu nƣớc ngoài Theo nghị định số 60/2015/NĐ-CP ban hành ngày 26/06/2015 của Chính phủ Việt Nam, tỷ lệ sở hữu nƣớc ngoài là tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp có quyền biểu quyết của (i) tất cả các nhà đầu tƣ là ngƣời nƣớc ngoài và (ii) tổ chức kinh tế có nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên.
Theo Luật đầu tƣ đƣợc Quốc hôi thông qua ngày 29/11/2005 thì nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thực sẽ lựa chọn phƣơng thức đầu tƣ trực tiếp hoặc gián tiếp tại Việt Nam. Ngày 26/11/2014, Luật Đầu tƣ sửa đổi đã đƣợc Quốc hội biểu quyết thông qua thay thế cho Luật Đầu tƣ năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015. Với mục tiêu tạo bƣớc chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh góp phần tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để các nhà đầu tƣ thực hiện hoạt động đầu tƣ với thủ tục đơn giản hơn và chi phí thấp hơn, Luật Đầu tƣ năm 2014 đã có nhiều điểm mới về đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam. Theo đó, Luật đầu tƣ 2014 quy định rõ 4 hình thức đầu tƣ bao gồm: đầu tƣ thành lập tổ chức kinh tế, đầu tƣ theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, đầu tƣ theo hình thức hợp đồng PPP và đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BCC.
Các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Nhà đầu tƣ đƣợc thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trƣớc khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phải có dự án đầu tƣ, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ theo quy định Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế: Nhà đầu tƣ có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: Nhà đầu tƣ, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực 123doc 6 hiện dự án đầu tƣ xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. Đầu tư theo hình thưc hợp đồng BCC: Hợp đồng BCC đƣợc ký kết giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.