Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM 1. Quá trình phát triển ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm 1995 Quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam đã được thiết lập từ năm 0925 sau khi Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước có thế chia thành những giai đoạn như sau: 1. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước giai đoạn 1975 - 1979 Trước khi có sự thay đổi nền chính trị ở Đông Dương năm 1975, Thái Lan đã có một số điều chỉnh chính sách đối ngoại, theo đó giảm bớt quan hệ quá gắn bó với Mỹ và tăng cường quan hệ ngoại giao với các cường quốc theo hệ thống cộng sản.
Khi ông Kukrit Pramoj lên nắm quyền, ông đã có chính sách quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc trong tháng 7/1975, đồng thời dự kiến cho rút căn cứ quân sự của Mỹ trên đất Thái Lan. Đây chính là nhân tố dẫn đến cuộc đàm phán để khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam. Tuy nhiên, những hành động trên đây không có nhiều kết quả, vì còn nhiều vấn đề không giải quyết được như vấn đề Việt Kiều, vấn đề về vũ khí của quân đội Việt Nam cộng hòa7. Hai vấn đề này được tóm tắt như sau: Sau khi Miền Bắc Việt Nam giành được thắng lợi, Thái Lan có đề nghị Việt Nam nhận 40.000 người Việt Kiều về nước vì Thái Lan không muốn nhận trách nhiệm, cũng như không biết rõ những người Việt Kiều này thuộc phe nào, tổ chức nào.
Tuy nhiên, phía Miền Bắc Việt Nam cũng cố gắng tránh 7 Suneerat Bounampon (2004), Thương mại và đâu tư giữa Thái Lan và Việt Nam, Luật văn tiến sĩ nhành kinh tế học, Sau đại học, Trường đại học Ramkamhang, Băng kok, Thái Lan. 40 17 z vấn đề này vì Miền Bắc Việt Nam vừa giành được thắng lợi và cũng như Thái Lan, họ cũng không rõ những người Việt Kiều này thuộc phe nào? Đối với vấn đề có liên quan đến vũ khí trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc cũng trở nên phức tạp bởi nhiều nguyên nhân. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh, một số quân nhân thuộc ngụy quyền Sài Gòn đã sử dụng máy bay cũng như những vũ khí có liên quan khác để lẩn trốn. Khi rút chạy, các quân nhân này để lại máy bay và vũ khí trên lãnh thổ Thái Lan.
Về vấn đề này, phía miền Bắc Việt Nam đã yêu cầu Thái Lan trả lại cho mình với lý do họ là người chiến thắng trong cuộc chiến tranh và những vũ khí thiết bị này thuộc về phía miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, lúc đó phía Thái Lan cũng chưa có cách giải quyết, chỉ biết trả lời với phía Việt Nam rằng, máy bay cũng như những vũ khí liên quan thực tế là thuộc về quyền sở hữu của phía miền Nam Cộng hòa, hoặc chí ít đó là vũ khí của Hoa Kỳ, và họ chỉ có thể trao trả cho miền Bắc Việt Nam khi hai bên Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ đồng ý. Đây là những lý do tiêu biểu lúc đó làm cho mối quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam vẫn chưa có thêm tiến triển. Tuy vậy, bất chấp mâu thuẫn này, cuối cùng, ông Pichai Rattakul, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan và ông Nguyễn Duy Trinh – Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, cũng đã đặt bút ký tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam vào ngày 6/8/1976 8.
Tuy nhiên, một thời gian sau đó, quan hệ ngoại giao giữa hai nước lại trở lên xấu đi do nền chính trị Thái Lan bất ổn bởi cuộc đảo chính xảy ra vào ngày 6/11/1976. Sau đảo chính, ông Thanin Kraivichian lên làm Thủ tướng, đã thực hiện chính sách chống lại Chủ nghĩa Cộng Sản và điều này đã ảnh 8 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác hiện nay,Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm 1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan. Băng kok: NXB. Trường đại học Thammasat.
18 z hướng không ít đến quan hệ giữa hai nước Thái Lan và Việt Nam vừa mới được thiết lập. Đến năm 1997, quan hệ ngoại giao giữa hai nước có chiều hướng tốt lên sau khi Thái Lan có cuộc đảo chính và ông đại tướng Kriangsak Chanmanan lên làm Thủ tướng. Ông Thủ tướng mới đã có một số điều chỉnh trong chính sách ngoại giao, theo đó Thái Lan tăng cường quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc và đặt tầm quan trọng của các quốc gia này ngang bằng nhau. Thủ tướng Thái Lan cho rằng, cần khôi phục lại quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan với các nước Đông Dương để chung sống một cách hòa bình.
Thủ tướng Thái Lan, Đại tướng Kriangsak Chanmanan muốn bình thường hóa quan hệ Thái Lan – Việt Nam và ông muốn thiết lập đại sứ quán ở thủ đô của cả hai nước để tạo sự liên lạc giao lưu với nhau. Sau đó ngày 13/12/1977, Ủy ban đại diện của Bộ Ngoại giao Việt Nam do ông Nguyễn Xuân dẫn đầu đã đến thăm Thái Lan với mục đích khảo sát vị trí đặt đại sứ quán Việt Nam. Đến ngày 27/12/1977, ông Phasit Nalongdet, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan và đoàn đã sang Việt Nam để trao đổi về quyền được bay qua bầu trời Việt Nam và hai bên đã nhất trí trong biên bản “Hiệp định về dịch vụ hàng không giữa chính phủ Thái Lan và chính phủ Việt Nam năm 1977”. Từ ngày 9 đến ngày 12/1/1978, ông Nguyễn Duy Trinh Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dẫn đầu một đoàn gồm 20 người đã đến Thái Lan để thảo luận về việc hai bên cùng trao đổi đại sứ với nhau.
Quan hệ giữa hai nước ngày càng thân thiện khi ông Phạm Văn Đồng đến thăm Thái Lan ngày từ ngày mồng 6 đến ngày 10/9/1978. Trong cuộc đàm phám giữa Đại tướng Kriangsak Chamanan và ông Phạm Văn Đồng, cả hai bên đã tỏ rõ bầu không khí hữu nghị và Thái Lan và Việt 19 z Nam đã khắc phục được một số vấn đề như sau: 1) Về vấn đề Việt Kiều, hai bên đã tổ chức một ủy ban nhằm khắc phục vấn đề này tại Thái Lan. 2) Về vấn đề máy bay cùng vũ khí mà quân đội Việt Nam Cộng hòa dùng để trốn thoát và đáp cánh tại Thái Lan, phía Việt Nam thấy rằng, phía Thái Lan nên trao trả lại cho Việt Nam để tỏ rõ mong muốn làm bạn của Việt Nam. Ngoài ra,Việt Nam đã trao trả 20 ngư dân Thái và 2 thuyền đánh cá, về phía Thái Lan cũng trao trả 5 người Việt Nam bị bắt do thực hiện hành vi phá hoại tại căn cứ căn Mỹ tại tỉnh Udon Thani hơn nữa Thái Lan sẽ cho Việt Nam vay 100 triệu Bath9 để mua hàng hóa từ Thái Lan.
Thủ tướng Thái Lan Đại tướng Kriangsak Chamanan đã mời ông Phạm Văn Đồng đến nhà mình và nấu món “Cà-ri gà kiểu Thái”, ông Phạm Văn Đồng đã thực sự rất xúc động trước hành động này. Trước khi về, ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố là Việt Nam sẽ không giúp đỡ Đảng Cộng sản Thái Lan nữa. Cuối năm 1978, sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, mặc dù Chính phú Thại Lan của Đại tướng Kriangsak Chamanan đã thể hiện sự phản đối trong việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia, song Thái Lan đã không đưa ra bất cứ chính sách nào thể hiện thái độ gay gắt với Việt Nam, do vậy mà quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ vấn đề này. Quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979-1988 Tháng 3 năm 1980, có sự thay đổi trong chính phủ Thái Lan khi ông Đại tướng Kriangsak Chamanan từ chức thủ tướng và Đại tướng Prem Tinsulanonda lên giữ chức Thủ tướng và ông Siddhi Savetsila làm Bộ trưởng 9 Tỷ giá cuối năm 1978 đạt 20.40 bath trên 1 USD, khoảng 4,901 USD 10 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác hiện nay,Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm 1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan.
Băng kok: NXB. Trường đại học Thammasat. Lúc này, quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam trở nên căng thẳng do vấn đề Việt Nam đưa quân vào Campuchia ngày 25/12/1978 theo yêu cầu giúp đỡ của Mặt trận cứu nước Campuchia và làm chủ được Phnom Penh ngày 7/1/1979. Kết quả là biên giới giữa Thái Lan và Campuchia có rất nhiều lính Việt Nam.
Chính phủ Thái Lan cho rằng, điều này có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Thái Lan và làm cho quan hệ Thái Lan - Việt Nam trở lên căng thẳng hơn11. Quan hệ thân thiện giữa Việt Nam và Liên Xô ngày càng tiến triển với sự kiện Việt Nam đồng ý cho Liên Xô đặt căn cứ tại Vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng. Thái Lan cũng cho rằng, điều này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Thái Lan, nên nước này đã dùng các hoạt động chính trị, ngoại giao và kinh tế để gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề Campuchia. Thái Lan sử dụng các diễn đàn quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc.đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia12.
Lúc này Việt Nam cũng bị sức ép bao vây từ cộng đồng quốc tế nên cần sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước trong phe XHCN cả về chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, lúc đó Liên Xô đang thực hiện cải cách kinh tế theo chính sách Perestroika và cải cách chính trị (Glasnost) nên không thể giúp đỡ Việt Nam như mong muốn. Vì vậy, Việt Nam đã quyết định chủ động phá vỡ sự cô lập bằng việc tuyên bố sẽ rút quân khỏi Campuchia trong thời hạn 5 năm. Tuy nhiên, Việt Nam đã hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia trước thời hạn 11 Chulacheep Chinwanno, (1980), Cuộc khủng hoảng biên giới Thái Lan Campuchia: trường hợp thôn huyền Nôn Mank Mung, Tạp chí đằng sau vấn đề hiện tại, tr.
1-38 12 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác hiện nay, Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm 1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan. Băng kok: NXB. Trường đại học Thammasat. 21 z một năm vào tháng 4/1989.
Sau đó, Liên Hợp Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong khắc phục vấn đề Campuchia.