Chương 1: giới thiệu sơ lược về đề tài, nội dung nghiên cứu cũng như lý do thực hiện đề tài, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: khái quát về tổng quan lý thuyết, trình bày các nghiên cứu khoa học và lý luận thực nghiệm. Chương 3: thảo luận về phương pháp nghiên cứu, mô tả dữ liệu và thiết lập mô hình. Chương 4: xem xét các phân tích cơ bản và trình bày kết quả thực nghiệm tương ứng.
Chương 5: đưa ra các kết luận và hàm ý chính sách. 123doc 5 CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Khác biệt dòng vốn FDI cùng sự chênh lệch tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia đã tạo động lực nghiên cứu suốt nhiều thập kỷ qua. Tuy số lượng các nghiên cứu thực nghiệm cùng lý thuyết liên quan đến tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế khá phong phú; tuy vậy, bằng chứng hiện nay lại chưa cho thấy sự thống nhất. Một số nghiên cứu cho thấy sự lan tỏa dương (positive spillover) từ FDI lên tăng trưởng kinh tế; một số khác lại kết luận về tác động tiêu cực; thậm chí, một số trường hợp, FDI không tác động (về mặt thống kê) lên tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia.
Trong chương này, tác giả tiến hành trình bày các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm nhằm xác định mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Nền tảng lý thuyết về tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế Nổi bật trong các lý thuyết lý giải về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng phải kể đến là lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh và lý thuyết chiết trung. Để giải thích tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia tiếp nhận, các quan điểm lý thuyết có thể được chia thành các nhóm như sau: lý thuyết hiện đại (lý thuyết tăng trưởng nội sinh và tăng trưởng dựa trên đổi mới), lý thuyết chiết trung, lý thuyết phụ thuộc và lý thuyết về lan tỏa công nghệ. Lý thuyết phụ thuộc (Dependency theory) Lý thuyết phụ thuộc dựa trên tư tưởng Mác-xít.
Các học giả của lý thuyết này cho rằng các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với tác động tiêu cực từ đầu tư nước ngoài do việc chuyển đổi lợi nhuận về nước, giảm tái đầu tư và bất bình đẳng thu nhập. Do đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào làm “kìm chân” các doanh nghiệp địa phương, ngăn cản sự đổi mới công nghệ và lấn áp các doanh nghiệp nội địa (Dixon and Boswell, 1996). Dixon and Boswell (1996) cũng kết luận rằng, FDI cho thấy tác động tích cực đến tăng trưởng lúc ban đầu, nhưng về lâu về dài sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài lại mang đến tác động tiêu cực lên tăng 123doc 6 trưởng: sự lan tỏa âm (negative spillover) bất bình đẳng thu nhập, thất nghiệp, đô thị hóa quá mức (over-urbanization). Tương tự, Moran (1978) cho rằng, các nhà đầu tư nước ngoài vô hiệu hóa quá trình chính trị (political process) của quốc gia sở tại bằng cách thao túng tầng lớp tinh hoa và (hoặc) sử dụng ảnh hưởng của họ tại quốc gia mình.
Cũng có ý kiến cho rằng lợi ích của FDI được phân bổ kém giữa các tập đoàn đa quốc gia (Multinational Corporations – MNCs) và quốc gia sở tại, các MNC thu được thặng dư kinh tế vượt trội nhờ vào sự phát triển tài chính quốc tế. Các nhà kinh tế học chủ yếu đề xướng lý thuyết phụ thuộc của FDI và tác động của nó đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển trong suốt những năm 1970 và 1980. Hơn nữa, đóng góp vào lý thuyết phụ thuộc, nghiên cứu Kentor (1998) thực tế ủng hộ rằng các quốc gia có sự phụ thuộc tương đối cao vào vốn nước ngoài (được đo lường bằng chứng khoán nước ngoài tích lũy – accumulated foreign stock) cho thấy tăng trưởng kinh tế chậm hơn so với các quốc gia ít phụ thuộc. Kết quả trên được xác nhận bởi những phát hiện của Dixon and Boswell (1996).
Kentor (2003) sử dụng cách đo lường “nồng độ” đầu tư nước ngoài khác, được tính bằng tỷ lệ phần trăm tổng số tích lũy FDI (FDI stock)1 của các quốc gia tài chính hàng đầu; kết quả vẫn là tác động tiêu cực dài hạn. Theo Kentor (2003), phụ thuộc đầu tư nước ngoài nhiều ảnh hưởng tiêu cực dài hạn đến tăng trưởng; tác động dữ dội trong 5 năm đầu và suy giảm theo thời gian. Lý thuyết chiết trung Lý thuyết chiết trung (the Eclectic Theory of FDI) được phát triển bởi Dunning (1988) trên cơ sở kết hợp các giả thuyết về tổ chức doanh nghiệp, nội bộ hóa và lợi thế địa điểm để lý giải về FDI. Lý thuyết này cung cấp một phương pháp phân tích khác về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Dựa trên phân tích về lợi thế cạnh tranh lý thuyết đã chỉ ra rằng, việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp 1 Foreign Direct Investment (FDI) stocks đo lường tổng mức đầu tư trực tiếp tại thời gian cho trước, thường trong cuối một quý hoặc một năm (Theo https://data.org/fdi/fdi-stocks. 123doc 7 nước ngoài (FDI) phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại. Ví dụ, Chakrabarti (2001) tranh luận rằng tăng trưởng cao tại các nước sở tại sẽ thu hútđược nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường và đầu tư. Mô hình tăng trưởng nội sinh (Endogenous growth) Lý thuyết tăng trưởng nội sinh được Romer (1986) giới thiệu lần đầu và tác giả được xem là một trong những người đóng góp chính cho lý thuyết này.
Lý thuyết cho rằng, vốn FDI đóng vai trò thiết yếu đối với tăng trưởng kinh tế nhờ vào quá trình đào tạo lao động và trang bị kỹ năng, thông qua tích lũy vốn và chuyển giao công nghệ. Theo lý thuyết này, chuyển giao công nghệ, mở rộng mức độ kiến thức được tăng lên thông qua đào tạo và kỹ năng của đội ngũ lao động. Thông qua việc trình bày ứng dụng thực tế quản lý (management practice) và sắp xếp tổ chức (organizational arrangement) khác, các doanh nghiệp nội địa có thể mô phỏng FDI. Như vậy, FDI có thể dẫn đến tăng trưởng sản lượng bằng cách tăng năng suất nhân tố tổng hợp TFP (Total Factor Productivity) nhờ vào sự phân bổ công nghệ và tăng hiệu quả thông qua tiếp thị, cơ cấu quản lý và công nghệ vượt trội tốt hơn (Blomstrom và cộng sự, 1996; Borenztin và cộng sự, 1995; De Mello, 1997, 1999).
Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho thấy các điều kiện quốc gia (country condition) liên quan đến FDI như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa đầu tư trong và ngoài nước, mức vốn con người thích hợp, chế độ thương mại mở và thị trường tài chính phát triển tốt có tác động tích cực đến tăng trưởng. Lý thuyết tăng trưởng dựa vào đổi mới (Innovation-based growth) Mô hình tăng trưởng dựa vào đổi mới được xây dựng xuất phát từ động lực phát triển kinh tế là sự đổi mới hoặc phát triển từ các sản phẩm đã có. Mô hình dựa trên lý thuyết cho rằng sự tăng trưởng vốn được thúc đẩy nhờ sự đổi mới; cụ thể, đổi mới đóng vai trò quan trọng, bởi vì nó thúc đẩy thị trường, do đó, tăng tính cạnh tranh và nâng cao phát triển kinh tế (Mankiw and Taylor, 2008). Grossman and Helpman (1994) chuyển đổi mô hình thành khung lý thuyết mô tả cách thức sự đổi mới tạo ra tăng trưởng dài hạn ở quốc gia tiếp nhận (FDI).
Mô hình đề cập các nhà 123doc 8 cải cách có xu hướng tìm ra các phương pháp sản xuất hiệu quả hơn bằng cách cải tiến các sản phẩm và dịch vụ hiện có cùng với việc thiết kế các sản phẩm và dịch vụ mới. Sự thay đổi này tạo nên thành công cho doanh nghiệp đổi mới trên thị trường, và do đó, thúc đẩy các nhà đầu tư tiến hành RandD (nghiên cứu và phát triển). Khi đó, các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giá bán trên các sản phẩm và dịch vụ nhằm trang trải chi phí sản xuất và RandD. Vì vậy, kết quả là nguồn vốn tương lai luôn sẵn có để phục vụ quá trình đổi mới và nghiên cứu (Grossman and Helpman, 1994).
Theo Grossman and Helpman (1994), ảnh hưởng của thể chế ở các quốc gia có bảo vệ quyền tài sản được nhấn mạnh, các nhà phát minh có được quyền và bảo vệ riêng biệt đối với các phát minh của mình. Do đó, việc bảo vệ tốt quyền sở hữu là rất quan trọng để khuyến khích đầu tư vào RandD, vì nó giúp doanh nghiệp đổi mới đạt được thị phần và tạo ra lợi nhuận chừng nào doanh nghiệp cạnh tranh khác cải thiện sự đổi mới đó. Hơn nữa, do tiến bộ trong sản xuất và công nghệ, kỹ năng lao động trong nền kinh tế cũng được cải thiện, đồng nghĩa vốn con người cũng tăng theo thời gian (Grossman and Helpman, 1994). Graham and Krugman (1991) ủng hộ giả định rằng FDI hiệu quả hơn đầu tư trong nước tại các quốc gia đang phát triển.
Giả định này dựa trên niềm tin rằng các doanh nghiệp nội địa có bí quyết và cách tiếp cận thị trường trong nước tốt hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, nếu doanh nghiệp nước ngoài quyết định tham gia thị trường, nó phải hoàn trả những lợi thế được sử dụng bởi các doanh nghiệp trong nước. Tương tự, một doanh nghiệp nước ngoài quyết định đầu tư vào một quốc gia khác có lợi thế từ chi phí thấp hơn và hiệu quả sản xuất cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong nước. Trong khi đó, trong trường hợp các quốc gia đang phát triển, sự kết hợp của các kỹ năng quản lý tiên tiến và công nghệ hiện đại hơn sẽ dẫn đến hiệu quả FDI cao hơn (Graham and Krugman, 1991).
Sự lan tỏa công nghệ (Technology spillover) Các mô hình FDI và sự lan tỏa dương được trình bày chi tiết từ những năm 1970. Nghiên cứu sơ bộ của Hymer (1976) đưa ra giả thuyết về sự khác biệt quốc tế 123doc 9 giữa các doanh nghiệp ở các cấp độ khoa học và công nghệ do sự chuyển giao và lan tỏa công nghệ gây nên. Theo Hymer, FDI được xét là phần mở rộng quốc tế của lý thuyết tổ chức công nghiệp (industrial organization theory) khi giả định FDI là quá trình chuyển giao một “gói tổng hợp” gồm vốn, quản lý và công nghệ mới. Nghiên cứu của Koizumi and Kopecky (1977) đặt nền móng giải thích việc chuyển giao công nghệ từ công ty mẹ sang công ty con.
Khi xem xét bối cảnh này, chuyển giao khoa học và công nghệ xác định năng suất ở quốc gia sở tại.