Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thu hút TNCs tham gia vào quá trình CNH, HĐH Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Phân tích vai trò của TNCs trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Chương 4: Mục tiêu, quan điểm và một số giải pháp nâng cao vai trò của TNCs trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THU HÖT TNCsTHAM GIA VÀO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về vai trò của TNCs trong quá trình CNH, HĐH Với sự phát triển rộng khắp và vai trò to lớn đối với nền kinh tế thế giới. TNCs đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của không chỉ các học giả, mà cả các doanh nhân và chính khách của hầu hết các quốc gia. Đã có nhiều công trình cả trong và ngoài nước nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định.
Liên quan trực tiếp đến phương diện TNCs và CNH, HĐH có thể kể đến các công trình sau: Daniel Chudnovsky (1993) đã tập trung phân tích vai trò của TNCs đối với từng ngành công nghiệp và mức độ đóng góp của TNCs đối với từng quốc gia; đồng thời làm rõ vấn đề TNCs và chiến lược chính sách CNH; các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ đóng góp của TNCs đối với nước sở tại. Thứ nhất là, CNH dựa trên tài nguyên: TNCs thúc đẩy quá trình khai thác và xử lý tài nguyên, hỗ trợ về kỹ thuật và công nghệ. Đối với các ngành công nghiệp dựa nhiều vào lao động phổ thông (may mặc…): TNCs góp phần giải quyết việc làm cho lao động phổ thông thông qua sản xuất xuất khẩu, tuy nhiên mức lương trong ngành này lại thấp. Đồng thời, TNCs cũng có vai trò trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu; thúc đẩy quá trình cạnh tranh sàng lọc các doanh nghiệp trong nước: các doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh sẽ không thể tiếp tục, muốn tồn tại, doanh nghiệp phải áp dụng các phương thức sản xuất hiệu quả hơn.
Với các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu: ngoại trừ Singapore, nơi phần lớn các hàng xuất khẩu đều do TNCs, tại Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kong, TNCs chiếm tỷ trọng hàng xuất khẩu ít hơn so với Mỹ La Tinh. Tác giả cũng chỉ ra rằng, sự đóng góp vào quá trình CNH tại nước sở tại của TNCs phụ thuộc vào quy mô thị trường, giai đoạn phát 4 z triển của nước sở tại, tầm quan trọng và chất lượng của các doanh nghiệp trong nước, thành phần tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng viễn thông, sự phát triển của thương mại, công nghiệp và chính sách công nghệ mà nước sở tại theo đuổi. Sau khi nghiên cứu, phân tích và dựa vào những minh chứng thực tiễn, tác giả khẳng định, TNCs đóng vai trò khác nhau ở các nước. Ở Hàn Quốc, TNCs đóng vai trò hạn chế trong quá trình CNH.
Hàn Quốc theo đuổi chính sách tổ chức vĩ mô, không khác mấy so với chính sách của Nhật trước đó. Chính phủ Hàn Quốc thích hình thức hợp tác liên doanh hơn trong quá trình xây dựng các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu. Trong sự phát triển này, TNCs chỉ đóng vai trò cần biên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò quan trọng thúc đẩy các sản phẩm điện tử.
Chiến lược CNH phụ thuộc tương đối ít vào TNCs của Hàn Quốc xuất phát từ một chiến lược phát triển lớn hơn, qua đó chính phủ nhằm mục tiêu làm chủ công nghệ bằng nội lực trong những ngành sản xuất chủ lực trên cơ sở những hỗ trợ có chọn lọc của chính phủ. Ở Đài Loan thì FDI vẫn còn rất ít và tập trung vào hàng xuất khẩu. Các mối quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài đóng góp nhiều hơn cho xuất khẩu. Thực tế là TNCs đóng vai trò quan trọng tại các nước CNH tương đối thành công như Hồng Kong, Singapore, Brazil, Mexico trong khi TNCs lại tham gia rất ít tại những nước có nền công nghiệp kém như Ấn Độ.
Hơn thế nữa, sự tham gia mạnh mẽ của TNCs ở một số nước có quá trình CNH kém (như một số nước Châu Phi và Mỹ La Tinh) đã cho thấy rằng, chính sách của các nước sở tại đã thất bại trong việc tạo điều kiện thu hút TNCs. Trái ngược với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, TNCs lại đóng vai trò trung tâm trong quá trình CNH ở Singapore. Tác động tích cực của nó đã được thừa nhận trong các bài báo, như trong nghiên cứu của P.Fong đã nói: sự kết hợp của ưu đãi đầu tư, ổn định chính trị và uy tín chính phủ về tính hiệu quả đã tạo ra một môi trường hấp dẫn thu hút FDI. Từ các nghiên cứu, rõ ràng có thể thấy rằng cùng với chiến lược CNH, chính sách thương mại cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách thức TNCs thâm nhập và hoạt động tại các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, các nhân tố khác như ổn định chính trị và kinh tế, sự phát triển kinh tế, chính sách ngành và chuyển giao công nghệ cũng tác 5 z động đến hoạt động của TNCs và sự ảnh của nó đến quá trình CNH. Có thể thấy là, mối quan hệ giữa TNCs và CNH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau và dựa vào chiến lược, chính sách CNH của từng quốc gia cụ thể mà vai trò của TNCs trong CNH thể hiện ở những mức độ khác nhau. Đây là nhận định rất quan trọng để thấy được rằng, Việt Nam nên làm gì để TNCs có vai trò nhiều hơn trong quá trình CNH đất nước. Đánh giá về các tác động kinh tế của TNCs đối với CNH theo một hướng khác với Daniel Chudnovsky, trong“Economic impacts of transnational corporations on industrialized”, tác giả đã phân tích và chỉ rõ vai trò của TNCs trên những lĩnh vực cụ thể: đầu tư, công nghệ, giao thông, việc làm, đô thị hóa, về môi trường… Về đầu tư tác giả nhận định, TNCs đầu tư và mang về ngoại tệ cho các nước sở tại, dù phần lớn lợi nhuận thực chất quay trở về nước mẹ.
Bên cạnh đó, lương TNCs trả cho công nhân khá thấp, trong khi TNCs thường được ưu đãi về thuế khi đầu tư. Về công nghệ, TNCs đưa các công nghệ và kiến thức khoa học mới đến nước sở tại, tuy nhiên thông tin chia sẻ sẽ không nhiều, vì thế nếu nước sở tại không chủ động, tích cực trong việc tiếp cận và học hỏi công nghệ mới thì thực ra lợi ích từ việc này cũng không được nhiều. Về giao thông, TNCs góp phần thúc đẩy phát triển giao thông nối liền giữa các vùng miền, tuy nhiên các mạch giao thông chỉ nối thẳng giữa các vùng liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, còn các vùng lân cận thì không được quan tâm. Về việc làm, TNCs tạo ra công ăn việc làm cho người dân nước sở tại.
Tuy nhiên, các vị trí đòi hỏi trình độ cao vẫn do người nước ngoài đảm trách, ít cơ hội cho người địa phương. Về đô thị hóa, TNCs thúc đẩy quá trình đô thị hóa, do thu hút lực lượng lao động trẻ tập trung về các thành phố lớn có TNCs. Về môi trường, một số TNCs áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường, nhưng số khác cũng gặp phải nhiều phàn nàn trong việc bảo vệ môi trường và an toàn lao động để tiết kiệm chi phí. Từ những phân tích cụ thể, tác giả đưa ra những bằng chứng và nhận định rằng: TNCs đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại các nước sở tại.
Bên cạnh đó, TNCs cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường tại những nước này. Vì thế, các quốc gia này cần có những chính sách và giải pháp phù hợp 6 z để phát huy những tác động tích cực của TNCs và giảm thiểu đến mức thấp nhất những hạn chế mà TNCs gây ra. Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về TNCs nói chung và vai trò của TNCs nói riêng. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp chuyên sâu đến vấn đề TNCs và CNH.
Xét một cách tổng thể thì có thể chia thành 3 nhóm nghiên cứu cơ bản có liên quan đến TNCs như sau: Nhóm thứ nhất, là các công trình về TNCs nói chung. Các công trình này mới chỉ làm rõ nguồn gốc hình thành, khái niệm, các hình thức tồn tại phổ biến, các mô hình tổ chức, chiến lược hoạt động của TNCs và vai trò của chúng trong nền kinh tế thế giới. Có thể kể đến các công trình như: Nguyễn Khắc Thân (1995), trong công trình này, tác giả đã phân tích chi tiết ở giác độ kinh tế chính trị về khái niệm và sự hình thành TNCs hiện đại. Một số loại hình TNCs, đặc trưng cơ bản và vai trò của TNCs này trong nền kinh tế thế giới.
Nguyễn Thiết Sơn (1996 - 2000), đề tài đã phân tích đầy đủ và tương đối toàn diện về các vấn đề cơ bản của TNCs; so sánh và làm rõ các khái niệm liên quan; phân tích và đối chiếu làm nổi bật bản chất, đặc điểm phát triển và vai trò của TNCs trên thế giới. Hoàng Khắc Nam (2008), bài viết tập trung xem xét quá trình hình thành và phát triển của TNCs từ thời cận đại cho đến nay. Một quá trình như vậy có thể giúp thấy được xu hướng tăng cường vai trò của TNCs trong quan hệ quốc tế thế giới. Bài viết cũng tìm hiểu những đặc điểm của TNCs như tính cá nhân, tính quốc tế, mức độ thể chế, quan hệ với quốc gia,… Đó là những yếu tố không chỉ góp phần quy định vai trò chủ thể quan hệ quốc tế mà còn tạo nên những đặc thù riêng trong tác động của chúng đối với nền kinh tế chính trị quốc tế.
Cuối cùng bài viết đánh giá về vai trò chủ thể quan hệ quốc tế với loại hình đặc biệt là chủ thể phi quốc gia. Việc đánh giá này được xem xét lần lượt trên bốn tiêu chí là tham gia, mục đích, năng lực và ảnh hưởng. Bài viết không chỉ có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu quan hệ quốc tế, mà còn cần thiết đối với nước ta trong bối cảnh mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhóm thứ hai, là các công trình về FDI của TNCs vào các nước đang phát triển nói chung và vào Việt Nam nói riêng.