CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA FDI TRUNG QUỐC 1. Những nghiên cứu về tác động của FDI đến nước nhận đầu tư 1. Tác động của FDI về mặt kinh tế Cung cấp nguồn vốn đầu tư phát triển Về cung cấp nguồn vốn đầu tư phát triển, các nước ĐPT luôn có khoảng chênh lệch lớn giữa đầu tư và tiết kiệm. Do đó, FDI được cho là có vai trò bù đắp và thu hẹp khoảng chênh này.
FDI làm tăng lượng tiền và tài sản trong nền kinh tế của nước tiếp nhận, do đó tạo khả năng khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và thị trường… Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers, and New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia ĐPT và các nền kinh tế chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới) [78], khi phân tích về FDI đối với các nước ĐPT đã chỉ ra những tác động trái chiều của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận. Từ phân tích một số điểm nổi bật của FDI tại các nước ĐPT và các nền kinh tế đang chuyển đổi như FDI có sự tăng trưởng vượt bậc từ những năm 1990, vốn FDI chiếm tỉ lệ lớn nhất và là nguồn vốn ổn định nhất trong các dòng vốn tư nhân như dòng nợ, dòng vốn vay ngân hàng thương mại, trái phiếu và các dòng vốn khác, sự phân phối FDI tới các quốc gia ĐPT và các nền kinh tế chuyển đổi là không đồng đều, bài viết đã đề cập đến tác động của FDI tới phát triển, bao gồm: (i) tạo ra thêm dòng tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài từ đó tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ tại nước nhập khẩu FDI. (ii) có ảnh hưởng không tốt tới thị trường của nước nhập khẩu FDI do các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các thị trường quốc tế, nơi đang diễn ra cạnh tranh không hoàn hảo, từ đó gây ra thách thức đối với DN của nước nhập khẩu FDI. (iii) vốn FDI góp phần thúc đẩy tiết kiệm nội địa và cung cấp thêm hiệu quả trong quản lý, marketing, và công nghệ để nâng cao năng suất lao động.
(iv) sử dụng hiệu quả FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn đối với nước nhập khẩu. Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Mô hình Malign về quan hệ giữa FDI và phát triển) được thể hiện thông qua sự gia tăng đầu tư sản xuất kinh doanh (SXKD) của các DN nước ngoài. Mặc dù FDI có thể có tác động rõ ràng, tích cực tới sự phát triển của nước tiếp nhận, song cũng có thể tạo ra một số tác động tiêu cực như trở thành nhân tố thúc đẩy sự hình thành tình trạng độc quyền nhóm thông qua thiết lập và mở rộng DN kiểu gia đình, từ đó thu hẹp khả năng gia nhập thị 6 trường của một số DN của nước tiếp nhận. Từ đó để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhập khẩu FDI không những cần có chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sách chủ động định hướng FDI theo hướng hiệu quả.
Mô hình hai khoảng cách (The two-gap) được trình bày trong nghiên cứu của Chenery [60] trong kinh tế học phát triển cho thấy các nước ĐPT thường gặp phải vấn đề (i) chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư (tăng tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu đầu tư) và (ii) chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu (tăng xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu). FDI góp phần thu hẹp 2 khoảng cách này, không chỉ bởi vì các TNC có cơ hội tiếp cận tốt hơn với thị trường tài chính, mà còn bởi vì: (i) FDI của một TNC đặc biệt thực hiện một dự án đặc biệt có thể thúc đẩy các TNC khác tham gia dự án tương tự; (ii) khuyến khích dòng hỗ trợ phát triển chính thức từ nước của chủ đầu tư và (iii) tạo cơ hội thu hút đầu tư nội địa. FDI với sản lượng và tăng trưởng kinh tế Một trong những khía cạnh quan trọng của FDI là tác động tới sản lượng (tức hiệu quả của nó đối với đầu ra của quá trình SXKD) và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại nước tiếp nhận đầu tư. Tác động của FDI tới tăng trưởng sản lượng ở nước sở tại phụ thuộc nhiều vào chính sách kinh tế vĩ mô của nước này.
Nói chung, FDI có thể gây ảnh hưởng đến sản lượng của nước sở tại nếu nó có thể hấp thụ các nguồn tài nguyên dư thừa hoặc cải thiện chúng một cách có hiệu quả thông qua việc thay đổi việc phân bổ các nguồn lực (Imad A. Moosa, 2002) [77] Từ khi xuất hiện, dòng vốn FDI đã có những tác động tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư và không ngừng gia tăng quy mô qua thời gian trên bình diện quốc tế. Mức độ lan tỏa ngày càng sâu rộng khắp các châu lục với sự đa dạng, nhiều chiều. Trong đó, đáng kể nhất là tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, cũng như những tác động lan tỏa khác.
Các nghiên cứu của Grossman và Helpman (1991), Barro và Sala-i-Martin (1995), Hermes và Lensink (2003) đều chỉ ra rằng FDI đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư. Andreas Johnson (2005) [50] sau khi nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cũng cho thấy, FDI tác động đến nước nhận đầu tư (đặc biệt là các nước ĐPT) qua hai kênh cơ bản đó là vốn vật chất và công nghệ, trong đó công nghệ là yếu tố chủ yếu. Girma (2005), Li và Liu (2005) còn cho thấy, FDI gây ra những tác động tràn làm tăng sản lượng ở trong các DN nội địa của nước tiếp nhận, từ đó làm tăng năng lực của cả nền kinh tế các nước này. Thêm vào đó, nghiên cứu của Aiken và Harrison [44] sử dụng số liệu từ 7 Venezuela trong phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế lại không thấy dấu hiệu tích cực nào của công nghệ.
Thậm trí kết quả nghiên cứu cho thấy FDI làm tăng sản lượng ở các DN FDI, nhưng lại làm giảm sản lượng đối với các DN trong nước. Kết quả này đã từng được khẳng định bởi Haddad và Harrison (1993) khi sử dụng số liệu của Morrocco rằng ảnh hưởng lan truyền của FDI tới sản lượng là nhỏ. Một số học giả cũng nhận định giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực hai chiều (Zhang, 2001; Liu, Burridge và Sinclair, 2002; Hansen và Rand, 2006; Abdus Samad, 2014). Durham [63] điều tra về vai trò của FDI tới tăng trưởng của 80 quốc gia giai đoạn 1979-1998 đã không tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, tác giả đã tìm thấy nhiều luận cứ cho thấy tác động của FDI phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nước nhận đầu tư.
Nhiều phân tích đồng ý rằng tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện trong nước của nước nhận đầu tư và xem đó là quyết định về tầm quan trọng và phạm vi tác động lan tỏa của các dự án FDI. Các điều kiện ở địa phương có thể được phân loại thành ba nhóm: chính sách thương mại (Balasubramanyam, 1996; Zhang, 2001); chính sách nguồn nhân lực (Keller, 1996; Borensztein, 1998; Olofsdotter, 1998; Xu, 2000; Bengoa và SanchezRobles, 2003) và khoảng cách công nghệ (Sjoholm, 1999; Glass và Saggi, 1998). FDI với tiền lương và việc làm FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động. Không chỉ ở những nước ĐPT, ngay cả ở những nước PT thì vấn đề tạo việc làm cho người lao động luôn là yêu cầu cấp thiết và là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Báo cáo của OECD về Tác động của đầu tư nước ngoài lên tiền lương và điều kiện làm việc) [101], đã khẳng định rằng FDI đã trở thành một lĩnh vực năng động nhất của nền kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ gần đây. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này đã được cấu thành bởi nhiều thay đổi về chất. Mặc dù một số lượng lớn FDI tiếp tục đổ vào khối OECD, nhưng tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các quốc gia ngoài OECD với FDI vẫn gia tăng không ngừng. Báo cáo đã chỉ ra tác động tích cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội các nước ĐPT, gồm: (i) FDI đã trở thành nguồn tài chính chủ yếu từ bên ngoài cho các quốc gia ĐPT.
Nhiều nước ngoài khối OECD cũng trở thành các nhà đầu tư FDI hiệu quả. (ii) Vai trò ngày càng quan trọng của FDI tại các quốc gia ĐPT đã mở ra những kỳ vọng mới về tiềm năng nhằm xây dựng một chiến lược phát triển tại các quốc gia này, ví dụ như, các nền kinh tế nội địa có thể hưởng lợi từ FDI thông qua 8 việc tạo ra những công việc chất lượng cao, từ đó trả lương cao hơn và điều kiện làm việc cũng tốt hơn các DN trong nước. Tuy nhiên, có một điều không chắc chắn rất đáng lưu tâm và hiện đang tranh cãi là trong thực tế có nên coi các DN nước ngoài có là một nhân tố có tác động điều tiết sự gia tăng của tiền lương và cải thiện điều kiện làm việc hay không. Báo cáo này tổng kết một số vấn đề liên quan tới nội dung trên, đó là nghiên cứu khảo sát đầu tiên về những tác động của thị trường lao động của vốn FDI và đưa ra những kết quả từ nghiên cứu này của OECD.
Nhìn chung, nghiên cứu này chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia (MNC) có xu hướng tăng tiền lương tại các quốc gia mà họ hợp tác đầu tư. Tác động tích cực của tiền lương có xu hướng tập trung vào các lao động được tuyển trực tiếp bởi các DN nước ngoài. Bên cạnh đó cũng có một ảnh hưởng tích cực nhỏ tới tiền lương của lao động nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của các DN này. Những tác động tới gia tăng tiền lương có thể mạnh mẽ hơn ở các quốc gia ĐPT so với các quốc gia PT, có thể do nguyên nhân khoảng cách về công nghệ giữa DN nước ngoài và DN trong nước là lớn hơn so với trong cùng một nước.