Chương 1: “Tổng quan về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.” Chương 2: “Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp tại tỉnh Phú Thọ.” Chương 3: “Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN tại tỉnh Phú Thọ.” Là sinh viên lần đầu tiếp cận với thực tế, đứng trước đề tài mang tính chất tổng hợp, thực tế cao và thời gian còn hạn chế, luận văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ, đánh giá và ý kiến đóng góp của các thầy cô trong Viện Đào tạo quốc tế, đặc biệt là Ths. Nguyễn Thị Thùy Linh để luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Một số khái niệm và các nội dung cơ bản của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm cơ bản Trong nền kinh tế mở cửa và hội nhập hiện nay, mỗi quốc gia đều có sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau trong sự phát triển kinh tế. Dưới nhiều hình thức và mức độ cụ thể, mối liên quan đó được thể hiện rõ nhất và được ưa chuộng nhất hiện nay là hình thức chuyển vốn đầu tư nhằm khai thác lợi thế đôi bên. Bên cạnh hình thức chủ yếu là vay ODA thì hình thức tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (vốn FDI) đang là hình thức được quan tâm hiện nay.
Trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là đầu tư. Đầu tư trước tiên là một hoạt động có tính chất lâu dài và chiến lược. Đầu tư là việc bỏ vốn vào để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận, chính vì thế đầu tư cũng là quyết định tài chính quan trọng. Hoạt động đầu tư luôn đi kèm với chi phí và kết quả đầu tư.
Đây là hoạt động mang nhiều rủi ro, vì thế các nhà đầu tư luôn cần có sự cân nhắc trước lợi ích trước mắt và lâu dài. Đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia. Đây là một tất yếu khách quan, bởi nó xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn, việc tìm kiếm nơi kinh doanh có lợi thế của các doanh nghiệp, các khoản thuế phí và các nguyên nhân xã SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh hội khách quan khác ở mỗi quốc gia. Hiện nay xuất hiện các dòng đầu tư khác nhau trên thế giới như: từ các nước công nghiệp phát triển sang các quốc gia đang phát triển, giữa các quốc gia phát triển và các tập đoàn quốc tế lớn,… Từ các khái niệm trên, đưa ra khái niệm ngắn gọn và dễ tiếp cận nhất như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment – FDI) là sự chuyển vốn, tài sản từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo nhu cầu và khả năng của nhà đầu tư.
Nói cách khác, FDI là hình thức đầu tư dài hạn, các tổ chức kinh tế hay các nhân nước ngoài sẽ tự mình hoặc cùng tổ chức kinh tế của mình bỏ vốn cho một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý, điều hành và thu lợi nhuận thông qua các dự án cụ thể. FDI khác với các hoạt động đầu tư nói chung vì chủ đầu tư mang nhiều quốc tịch khác nhau. Hoạt động đầu tư của họ tiến hành qua các dự án và việc sử dụng vốn tuân theo quy định của luật đầu tư tại nước sở tại. Đặc điểm của FDI FDI có thể xác nhận bằng một con số cụ thể.
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào vốn và tài sản biểu thị thông qua kim ngạch đầu tư thì sẽ chưa thể phản ánh được hết bản chất của nó. Bản chất của FDI là di chuyển khối tài sản và vốn kinh doanh dài hạn của quốc gia ra ngoài biên giới nhằm thu được lợi nhuận cao hơn việc đầu tư trong nước. Nguồn vốn ở đây là tài sản vô hình và hữu hình, bao gốm như máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu, tiềm năng vốn, kỹ thuật, các bằng phát minh sang chế, mẫu sản phẩm, thương hiệu. chương trình phần mềm, dây chuyền công nghệ và các kinh nghiệm quản lý kinh doanh.
Sự di chuyển một khối tài sản đó, được thể hiện thông qua các dự án FDI. SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh Dự án FDI trước hết cũng là một dự án đầu tư nên nó mang đầy đủ các đặc điểm đặc trưng cơ bản của một dự án như: tính sinh lời, tính rủi ro. Tính sinh lời được thể hiện thông qua việc quyết định đầu tư vì nó gắn liền với chi phí và kết quả, khiến nhà đầu tư cân nhắc đặt ra lợi ích trước mắt và lâu dài. Tính rủi ro được thể hiện thông qua các yếu tố tác động như là môi trường đầu tư nước sở tại, nên không phải ai cùng muốn đầu tư một cách mạo hiểm.
Ngoài những đặc điểm chung kể trên, dự án FDI còn mang những đặc trưng khác so với các dự án đầu tư trong nước. Thứ nhất, dự án này do các chủ đầu tư nước ngoài tự quyết định quy mô và phương thức, đồng thời tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính và các nghĩa vụ theo các quy định quốc tế. Thứ hai, các bên tham gia dự án FDI có nhiều quốc tịch khác nhau, đồng thời sử dụng các ngôn ngữ khác nhau, mang lại sự cọ sát giữa các nền kinh tế, văn hóa khác nhau trong suốt quá trình đầu tư. Thứ ba, các dự án FDI chịu sự chi phối đồng thời của hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tê.
Thứ tư, hầu hết các dự án FDI gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ. Chính vì thế doanh nghiệp nước chủ nhà có thể tiếp thu được công nghệ, ký thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại. Những đặc điểm này đỏi hỏi nước sở tại phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết, để tham gia hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng và thu được hiệu quả lớn nhất cho cả hai bên, đồng thời hạn chế nhiều nhất các rủi ro trong quá trình hợp tác đầu tư. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh Các hình thức FDI được phân chia theo nhiều cách như: căn cứ lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư nước ngoài, mức độ triển khai dự án và hình thức đầu tư.
Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, FDI có thể phân chia thành 3 loại: các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, các dự án đầu tư vào lĩnh vực nopng nghiệp và dự án đầu tư vào lĩnh vực địch vụ. Sự phân chia này tương ứng với phân chia theo cơ cấu kinh tế, thuận tiện cho việc phân tích và đánh giá cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế. Căn cứ vào đối tác đầu tư nước ngoài, có thể phân chia theo đối tác. Phân chia này cho phép đánh giá chất lượng và đặc điểm của nguồn vốn FDI của các đối tác đầu tư.
Căn cứ theo mức độ triển khai dự án, FDI phân chia thành các dự án đang làm thủ tục hành chính, các dự án đang thi công trong quá trình xây dựng cơ bản, dự án đang trong quá trình giải phóng mặt bằng,… Tuy nhiên FDI thường được chia theo hình thức đầu tư chủ yếu như sau: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh… 1. Hình thức doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là các doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở là hợp đồng liên doanh. Một doanh nghiệp liên doanh bao gồm hai hoặc nhiều bên tham gia. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Hình thức này mang các đặc điểm như sau: SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh - Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý tuân theo quy định luật pháp cụ thể của mỗi nước. - Tỉ lệ góp vốn của mỗi bên sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu. Ưu điểm của hình thức này giúp đem lại lợi thế cho cả nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên hình thức này mang lại sự ràng buộc chặt chẽ giữa các bên hoàn toàn xa lạ khác nhau về cả ngôn ngữ và văn hóa, có thể phát sinh những mâu thuẫn khó giải quyết.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Hình thức này mang các đặc điểm như sau: - Được thành lập dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn và được hoạt động ở nước sở tại. - Doanh nghiệp này được phép hoạt động dưới sự chi phối của nước sở tại. Ưu điểm của hình thức này giúp cho nhà đầu tư có quyền quyết định tuyệt đối, vốn đầu tư dài hạn ít biến động và sử dụng công nghệ, trình độ quản lý tại nước ngoài.
Tuy nhiên hình thức này đứng trước thách thức phải sử dụng và quản lý nhân công hợp lý tránh gây bất đồng. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh SV: Phan Tấn Lâm Lớp: KTĐNCLC7B Luan van Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thùy Linh Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức ký kết hợp đồng giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh và phân chia lợi nhuận, sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Chủ thể tham gia hình thức này có thể là cá nhân, pháp nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài. Hình thức này mang các đặc điểm nổi bật như sau: - Thời hạn hợp đồng là do hai bên cùng thỏa thuận, phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh và mục tiêu của dự án.