CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC DỊCH VỤ BÁN LẺ 1. Một số vấn đề cơ bản của FDI 1. Khái niệm FDI Các quan điểm và định nghĩa về FDI được đưa ra tùy góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế nên rất phong phú và đa dạng.
Đến nay định nghĩa mà nhiều nước và các tổ chức hay dùng nhất là định nghĩa của tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) như sau: “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác” (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2010, trang 3) Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đẩu tư trực tiếp nước ngoài nhận từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: Vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2010, trang 3) Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay gọi là “công ty mẹ” và các tài sản gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2010, trang 3) Theo Luật đầu tư nước ngoài của Liên bang Nga ngày 04/07/1991: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà người đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của sản xuất kinh doanh Luan van 6 và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận ở các nước sở tại” ( Trần Văn Nam, 2005, trang 7). Luật đầu tư năm 2005 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra định nghĩa về FDI, nhưng có quy định: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư tự bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”; và “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Do đó, có thể hiểu FDI trên tinh thần của Luật đầu tư tại Việt Nam: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Mặc dù được diễn đạt theo những cách thức khác nhau nhưng tựu chung lại FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia ấy để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia này, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình.
Đặc điểm FDI Đối với các nhà đầu tư, đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là quyết định đầu tư và kinh doanh của chính bản thân nhà đầu tư. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình. Do đó họ phải tìm hiểu các điều kiện moi trường và dự kiến lỗ lãi trước khi tiến hành, chỉ khi chắc chắn hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư sẽ cho kết quả tốt nhà đầu tư nước ngoài mới thực hiện. Vì vậy, FDI thường mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, tính khả thi và hiệu quả kinh tế nghiêng về bên nào hơn, nhà đầu tư hay nước nhận đầu tư, phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư. Tùy vào hình thức chủ thể được thành lập theo giấy phép đầu tư, nhà đầu tư phía nước ngoài có thể trực tiếp điều hành toàn bộ hoặc tham gia điều hành các hoạt động của doanh nghiệp FDI. Đặc điểm này cho thấy rõ sự khác nhau giữa đầu trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Bởi trong hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài, phía nước ngoài đầu tư bằng cách mua cổ phần của các công ty tại nước Luan van 7 nhận đầu tư với tỷ lệ nhất định nhằm mục đích thu lợi nhuận mà không tham gia trực tiếp điều hành quản lý doanh nghiệp.
Nguồn vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư ban đầu hay vốn pháp định, vốn vay của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Với nước nhận đầu tư, tùy thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển các ngành cũng như các hiệp định, cam kết quốc tế đã tham gia, sẽ cho phép nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Cùng hỗ trợ phát triển chính thức – ODA, ngày nay các quốc gia đều chú trọng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI bởi nguồn vốn này không gắn nước nhận đầu tư với bất cứ ràng buộc về mặt chính trị, cũng như không để lại gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau như hình thức ODA. Một đặc điểm nổi bật của FDI và khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài là thông qua chuyển giao công nghệ, nước chủ nhà có thể có được công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
Những nhà quản lý của nước chủ nhà cũng có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại khi được làm việc cùng với đội ngũ những nhà quản lý nước ngoài. Các hình thức FDI 1. Các hình thức FDI phân theo hình thức đầu tư Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào. Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia, mooyj xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh.
Luan van 8 Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài: Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữa của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lí và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT). Những dự án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế. Các hình thức FDI phân theo bản chất đầu tư Đầu tư phương tiện hoạt động: Đây là hình thức FDI trong đó một công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầy tư.
Hình thức này làm tăng khổi lượng đầu vào. Mua lại và sáp nhập: Là hình thức FDI trong đo hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng vốn đầu tư vào. Các hình thức FDI phân theo tính chất dòng vốn Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.
Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhâu vay vốn để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. Các hình thức FDI phân theo động cơ của nhà đầu tư Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhắm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ thuật dồi dào. Nguồn vốn này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (điểm du lịch nổi tiếng) hay các tài sản trí tuệ.
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tổ sản xuất như điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi. Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào thị trường khu vực toàn cầu. Vai trò và đặc điểm của FDI vào lĩnh vực dịch vụ bán lẻ 1.
Khái quát về lĩnh vực dịch vụ bán lẻ 1. Định nghĩa và đặc điểm lĩnh vực dịch vụ bán lẻ Bán lẻ là hoạt động ra đời từ rất lâu của con người, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra.