Luận văn thạc sĩ kinh tế quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phân tích quan hệ lợi ích giữa người lao động & người sử dụng lao động tại doanh nghiệp FDI. Tìm hiểu sự tác động, cân bằng lợi ích.

Trường đại học

Trung Tâm Đào Tạo, Bồi Dưỡng Giảng Viên Lý Luận Chính Trị

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2006

131
20
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lợi ích kinh tế và đầu tư nước ngoài

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) tại Việt Nam. Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được xem là một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, cũng tồn tại mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, dẫn đến các cuộc đình công. Luận văn đặt ra mục tiêu làm rõ bản chất và thực trạng của mối quan hệ này, từ đó đề xuất giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa.

1.1. Khái niệm lợi ích kinh tế: Lợi ích kinh tế được định nghĩa là sự thể hiện của quan hệ sản xuất, được quy định bởi phương thức sản xuất và quan hệ sở hữu. Nó là động lực thúc đẩy con người hoạt động kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Như Lênin đã chỉ ra, lợi ích của mỗi giai cấp được xác định khách quan bởi vai trò của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất.

1.2. Đặc điểm ĐTNN và DNCVĐTNN: Luận văn phân tích các đặc điểm của ĐTNN, bao gồm việc nhà đầu tư góp vốn để thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh và tham gia quản lý. DNCVĐTNN tại Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Các mối quan hệ cơ bản trong khu vực này bao gồm quan hệ giữa nước chủ nhà và nhà đầu tư, giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tìm kiếm lợi nhuận tối đa, trong khi nước chủ nhà có quyền điều chỉnh các dự án đầu tư thông qua luật pháp.

II. Quan hệ sản xuất trong DNCVĐTNN

2.1. Quan hệ sở hữu: Trong DNCVĐTNN, sở hữu vốn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả vốn tự có và vốn vay từ các ngân hàng trong nước. Việc bảo vệ quyền sở hữu này là rất quan trọng để thu hút đầu tư.

2.2. Quan hệ quản lý: Nhà đầu tư có quyền điều hành và quản lý doanh nghiệp để bảo toàn và phát triển vốn. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay là tách quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, nhà đầu tư có thể thuê giám đốc điều hành. Điều này cho phép nhà đầu tư vẫn giữ quyền sở hữu, đồng thời chuyển giao kỹ năng quản lý hiện đại cho đội ngũ cán bộ tại nước sở tại.

2.3. Quan hệ phân phối: Phân phối trong DNCVĐTNN dựa trên nguyên tắc thị trường, tức là phân phối theo sở hữu và đóng góp vào sản xuất kinh doanh. Điều này đảm bảo sự công bằng và khuyến khích hiệu quả làm việc. Tuy nhiên, luận văn cũng lưu ý đến sự cần thiết của việc điều chỉnh để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên.

III. Mâu thuẫn lợi ích kinh tế và đình công

Luận văn chỉ ra rằng mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đình công trong DNCVĐTNN. Người lao động mong muốn có mức lương, điều kiện làm việc và các chế độ đãi ngộ tốt hơn, trong khi người sử dụng lao động muốn tối đa hóa lợi nhuận. Sự mất cân bằng trong quan hệ này có thể gây ra bất ổn xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư. "Nguyên nhân chính dẫn đến đình công ở một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" (Trần Đình Giám, Tạp chí Lao động và xã hội, số 6/1996) là một trong những nghiên cứu được trích dẫn để làm rõ vấn đề này. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động, như đã được đề cập trong bài viết "Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa đại diện lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp" (Phụng Hiệp, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 1/1997).

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Luận văn có giá trị trong việc cung cấp cái nhìn tổng quan về quan hệ lợi ích kinh tế trong DNCVĐTNN. Việc phân tích các mối quan hệ sản xuất và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn lợi ích là cơ sở để đề xuất các giải pháp. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhằm điều chỉnh quan hệ lợi ích, xây dựng quan hệ lao động lành mạnh và thu hút đầu tư nước ngoài hiệu quả. Luận văn cũng đóng góp vào việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề kinh tế liên quan. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu giới hạn đến năm 2005 nên cần cập nhật thêm các thông tin và số liệu mới để phản ánh đúng thực trạng hiện nay.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1- Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi thì doanh nghiệp liên doanh “là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh”. Như vậy theo văn bản pháp luật đó, khái niệm “Doanh nghiệp liên doanh” được hiểu là sự liên doanh, liên kết giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân Việt Nam với các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài thuộc một hay nhiều quốc tịch khác nhau. Những trường hợp trái với qui định này thì không được coi là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn và là pháp nhân Việt Nam.

Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia. Như vậy thực chất của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là doanh nghiệp hỗ hợp do hai hoặc nhiều bên cùng đóng góp tài sản (dưới hình thức tiền mặt, thiết bị máy móc, nhà xưởng, đất đai) cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ tài sản đóng góp. Vì thế ở Trung Quốc, doanh nghiệp thuộc loại này được gọi là doanh nghiệp hùn vốn. • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 13 Doanh nghiệp có vốn nước ngoài 100% là doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài được Chính phủ Việt Nam phê chuẩn việc thành lập, đầu tư 100% vốn, tự chịu lỗ lãi.

Dù là 100% vốn nước ngoài nhưng doanh nghiệp thuộc loại này cũng là một pháp nhân Việt Nam, hoạt động theo luật pháp Việt Nam, được luật pháp Việt Nam bảo vệ. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài về thực chất là một “giao kèo” một “hợp đồng cho thuê” có điều kiện của nước chủ nhà với các nhà đầu tư nước ngoài. 14 • Đặc điểm quan hệ sản xuất của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Cũng như bất kỳ khu vực kinh tế nào khác, quan hệ sản xuất của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng bao gồm ba mỗi quan hệ là quan hệ về sở hữu, quan hệ về quản lý và quan hệ về phân phối. Các quan hệ này có những điểm chung, nhưng cũng có những đặc điểm riêng biệt của nó.

Sở dĩ như thế là vì, khu vực có vốn ĐTNN có nhiều yếu tố đặc thù về kinh tế, văn hoá, con người. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những nét đặc thù của quan hệ sản xuất trong khu vực kinh tế có vốn ĐTNN để có những qui định chính sách phù hợp là vấn đề cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Thứ nhất, về quan hệ sở hữu. Cũng như các khu vực kinh tế khác, một trong những nội dung của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu các nguồn vốn.

Trong khu vực có vốn ĐTNN sở hữu vốn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài. Khi nói về khu vực kinh tế có vốn ĐTNN, trước hết người ta thường nhấn mạnh là nhà đầu tư vốn, có tư bản. Chính điều đó đã hấp dẫn việc thu hút đầu tư nước ngoài. Rõ ràng là, muốn đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư trước hết phải có vốn, có tư bản, nhà đầu tư mới có thể xây dựng được nhà máy, mua sắm trang thiết bị, thuê công nhân tại các nước sở tại để tiến hành sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên cũng cần phải hiểu thêm, vốn của nhà đầu tư bao gồm không chỉ vốn riêng có của nhà đầu tư nước ngoài mà còn có cả nguồn vốn mà nhà đầu tư vay của các ngân hàng và dân cư ở nước ta. Vấn đề là cần có một môi trường pháp lý để bảo toàn vốn cho chủ sở hữu vốn đó. Thứ hai, về quan hệ quản lý Dù nhà đầu tư nước ngoài hoạt động bằng nguồn vốn tự có hay nguồn vốn đi vay, về mặt pháp lý họ phải chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển 15 nguồn vốn của mình. Chính vì thế các nhà đầu tư nước ngoài là người chủ hoặc đóng vai trò quan trọng trong công tác điều hành, quản lý doanh nghiệp.

Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn là việc tách rời chủ sở hữu doanh nghiệp với chủ kinh doanh. Ngày càng có nhiều nhà đầu tư thuê giám đốc điều hành hoạt động của doanh nghiệp của mình ở các nước sở tại.Thông qua hoạt động đó nhà kinh doanh vẫn bảo tồn được quyền sở hữu vốn của họ, đồng thời, những giám đốc điều hành, đội ngũ cán bộ quản lý tiếp thu được kỹ năng điều hành sản xuất kinh doanh hiện đại. Thứ ba, về quan hệ phân phối. Phân phối trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, đó là phân phối dựa vào sở hữu và đóng góp các nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

• Các mối quan hệ cơ bản của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Để hiểu rõ thêm bản chất của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cần thiết phải làm rõ các mỗi quan hệ cơ bản trong hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Một là, quan hệ giữa nước chủ nhà với các nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước ta có những vai trò tích cực và trở thành nhân tố thúc đẩy CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong họat động đầu tư trực tiếp nước ngoài, ta thấy nổi lên mối quan hệ cơ bản, quan trọng- quan hệ giữa nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài. Trong mối quan hệ này, các nhà đầu tư là những người chủ sở hữu các nguồn vốn đầu tư và mục đích đầu tư của họ là nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Trái lại, với tư cách là nước chủ nhà, nước nhận đầu tư có quyền xem xét và quyết định cho phép đầu tư 16 (kể cả ngành nghề, địa bàn đầu tư…) trên đất nước mình và nước chủ nhà có thể dùng luật pháp của mình để điều chỉnh của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đây cho thấy: mối quan hệ giữa nước chủ nhà và nhà đầu tư trong hoạt động kinh tế này là rất bình đẳng và về nguyên tắc không ai có thể dùng ý chí của mình để áp đặt cho các đối tác của mình.

Quan hệ giữa nước chủ nhà với các nhà đầu tư nước ngoài còn thể hiện ở mối quan hệ về lợi ích giữa hai bên. Theo đuổi và bằng mọi cố gắng để thu được lợi ích kinh tế cao nhất là mục tiêu đặt ra của cả các bên liên quan đến hoạt động đầu tư. Tuy vậy, trên thực tế một dự án trực tiếp đầu tư nước ngoài chỉ có thể được thực thi khi lợi ích kinh tế được phân chia một cách hợp lý giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà - nước nhận đầu tư. Điều này lại phụ thuộc vào việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu với quyền điều hành quản lý sản xuất kinh doanh và phân chia lợi ích cho các bên.

Hai là, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan hệ lao động trước hết là quan hệ giữa giới quản lý, người sử dụng lao động và người lao động, quan hệ giữa chủ sở hữu hay là đại diện của chủ sở hữu với người lao động làm thuê. Mối quan hệ này được thực hiện thông qua hợp đồng lao động giữa mỗi công nhân và người chủ, cũng như hợp đồng lao động tập thể giữa đại diện chủ sở hữu và đại diện người lao động. Theo quan niệm “truyền thống” thì quan hệ giữa chủ (người sử dụng lao động) - thợ (người làm công, làm thuê) là “quan hệ bóc lột”.

Song trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thì quan niệm về “quan hệ bóc lột” đã có sự thay đổi và có sự điều chỉnh. Điều này được lý giải bởi bản chất của nhà nước XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân - do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, luôn luôn kiên trì mục tiêu, lý tưởng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng 17 XHCN, tiến tới xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Từ đó, nhà nước có thể sử dụng pháp luật, áp dụng các chính sách, biện pháp cần thiết để hạn chế “sự bóc lột” đến mức có thể chấp nhận được trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa giới quản lý, người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tốt hay xấu, phần lớn tuỳ thuộc vào: - Trình độ tổ chức, quản lý lao động tại doanh nghiệp.

- Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp. - Giải quyết thoả đáng mối quan hệ lợi ích giữa giới quản lý và người lao động (đặc biệt là lợi ích đối với người lao động). Mối quan hệ này còn thể hiện ở chỗ: hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu tối ưu, trong đó “nhân tố con người” giữ vai trò quyết định, vì thế trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng góp phần tích cực vào việc đào tạo một đội ngũ công nhân, chuyên gia có khả năng lao động, tay nghề cao và có tác phong, kỷ luật công nghiệp… làm tăng thêm tiềm lực cho nền kinh tế quốc dân. Quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một loại hình kinh tế mới ở nước ta, các mối quan hệ lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp này có đặc thù riêng, do tính đa dạng về kinh tế, văn hoá và ngôn ngữ trong quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.

Để làm rõ về mỗi quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp này, trước hết ta cần làm rõ lợi ích kinh tế của từng chủ thể: 18 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ của Nguyễn Giang Tuệ Minh, mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ kinh tế quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài", tập trung vào mối quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong bối cảnh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ những lợi ích và thách thức mà cả hai bên phải đối mặt, mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện mối quan hệ này, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

Đối với những độc giả quan tâm đến các khía cạnh khác nhau của quản lý nguồn nhân lực và kinh tế trong doanh nghiệp, có thể tham khảo thêm bài viết Công tác đãi ngộ nhân sự tại công ty cổ phần kinh đô luận văn ths 2015, nơi phân tích sâu về công tác đãi ngộ nhân sự. Bài viết này cũng có thể cung cấp cái nhìn bổ sung về cách mà doanh nghiệp có thể xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nhân viên của mình.

Ngoài ra, bài viết Hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại vnpt nghệ an luận văn ths kinh doanh và quản lý 60 34 01 pdf cũng đề cập đến các phương pháp cải thiện quản lý nguồn nhân lực, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội tỉnh long an sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức công, từ đó giúp độc giả có cái nhìn đa chiều hơn về lĩnh vực này.

Những tài liệu này sẽ giúp độc giả mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề liên quan đến quản lý nguồn nhân lực và lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp.