À1 2 ISSN 1859 - 1124 TAPCHÍ Phattriénkintaee > THANG 11/2015 NAM THU 26 - SO 11 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Phattrienkinhte Tổng biên tập Phó Tổng biên tập DƯƠNG THỊ BÌNH MINH ĐINH PHI HỖ Thư ký Toà soạn NGUYÊN TRUNG ANH TON CHI & MUC DICH Tạp chí Phát triển Kinh tế (PTKT) của Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh được xuất bản từ năm 1990 với mã số ISSN 1859-1124, phát hành từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng. Tạp chí PTKT được xây dựng theo các tiêu chí của một tạp chí nghiên cứu khoa học hàn lâm quốc tế. Mục tiêu của tạp chí PTKT là góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học kinh tế, các chuyên gia và các nhà quản lý kinh tế, giảng viên đại học kinh tế, nghiên cứu viên kinh tế: công bố và phổ biến các kết quá nghiên cứu khoa học kinh tế ở trong vả ngoài nước.
Phạm vi nghiên cứu của tạp chí bao gồm các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế của Việt Nam và thế giới: kinh tế học, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô theo hướng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Những bài viết nghiên cứu gửi đến tạp chí sẽ được phản biện bởi các chuyên gia kinh tế đầu ngành, những nhà khoa học nghiên cứu kinh tế có uy tín ở trong và ngoài nước nhằm đảm bảo chuẩn mực va tăng cường giá trị nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các bài báo khoa học kinh tế. Tạp chí PTKT hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về các lĩnh vực: phản biện, viết bài, trao đối học thuật, trợ ø1úp kỹ thuật và phát hành. HOI DONG BIEN TAP Jonathan Batten, Dai hoc Monash, Uc Trần Hoàng Ngân, Đại học Tài chính - Marketing Ramaprasad Bhar, UNSW Australian Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP.HCM Business School, Sydney, Uc Phan Thị Bích Nguyệt, Đại học Kinh tế TP.HCM Hoàng Thị Chỉnh, Đại học Kinh tế TP.
HCM Nguyễn Đông Phong, Đại học Kinh tế TP.HCM Mai Ò Đạihọc Kinh tế Quốc dâ ai Ngoc Cuong, Bai hoc Kin fe Quoc an S.Senanayake, Dai hoc Colombo, Sri Lanka Shelomentsev Andrey Gennadyevich, Vién Kinh té Peter G. Szilagyi, CEU Business School, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, CHLB Nga Đại hoc Central European, Hungary Nguyễn Trọng Hoài, Đại học Kính tế TP. HCM Trương Bá Thanh, Đại học Đà Nẵng Đinh Phi Hổ, Đại học Kinh tế TP.HCM Sử Đình Thành, Đại học Kinh tế TP.HCM Hồ Đức Hùng, Đại học Kinh tế TP.HCM Nguyễn Xuân Thắng, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội VN Eric lksoon Im, Đại hoc Hawaii - Hilo, My Nguyễn Đình Thọ, Đại học Kinh tế TP. HCM Pierre Lefebvre, Dai hoc Quebec- Montreal, Canada Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP.
Malyadri, Government Degree College, Osmania University, An Dé Võ Thanh Thu, Đại học Kinh tế TP.HCM Dương Thị Binh Minh, Đại học Kinh tế TP.HCM Đoàn Thị Hồng Vân, Đại học Kinh tế TP.HCM Mazyrin Vladimir Moiseevich, Dai hoc Tổng hợp Tam Bang Vu, Đại học Hawaii - Hilo, Mỹ Lomonosov, CHLB Nga Thomas Wolke, Đại học Kinh tế - Luật Berlin, CHLB Đúc Fariborz Moshirian, Institute of Julian Ming - Sung Cheng, National Central University, Global Finance, Sydney, Uc Taiwan Phattrienkinhte ISSN 1859 - 1124 Năm xuất bản số đầu tiên: 1990 Năm thứ hai mươi sau, thang 11/2015 Tạp chí phát hành ngày 1 hằng tháng a TEED su" ae aia! = 2 vars II on. os 3 \gữ%,: x ig ans : x = SRA & TU” Uy vi ee _ Năm thứ26-Số11 Thánglli/2015 ˆ www. Diép Gia Luat Nang cao chat luong va hiệu qua đâu tư công ở Việt Nam đên năm 2020 25. Duong Thi Binh Minh & Nguyễn Thị Bích Trâm Các nhân tô dân đền vượt dự toán trong các dự án công của ngành giao thông đường bộ tại TP.
Hồ Chí Minh 45. Huỳnh Thế Nguyễn Động lực nâng cao chất lượng phái triển ngành công nghiệp điện tử TP. Hè Chí Minh 63. Trần Ngọc Thơ & Đặng Như Ý Tác động của thanh khoản thị tường chứng khoán đến đầu tư của các công ty niềm yêI: Băng chứng tại Việt Nam 80.
Nguyễn Thị Hồng Vinh Yêu tô tác động đên nợ xâu các ngân hàng thương mại Việt Nam 99. Nguyễn Thị Thu Hảo Các nhân tô ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm vết trên HOSE Thư và bài xin gởi về tòa soạn; Gia: 50.000 đồng Đào Thị Minh Huyền Tòa soạn Tạp chí Phát triển Kinh tế 59C Nguyễn Đình Chiêu, P. 38229253 (tiếng Anh) Email: ptkt(@ueh,edu.vn Giấy phép số 242/GP-BVHTT cấp ngày 08/05/2001. In tại Công ty In Kinh té- Truong Dại hục Kinh tế TP.HCM Diệp Gia Luật.
Tạp chí Phát triên Kinh tê, 26(11), 02-24 Nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam đến năm 2020 DIỆP GIA LUẬT Trường Đại học Kinh tế TP.HCM - gialuat@ueh.vn Ngày nhận: Tóm tắt 27/08/2014 Nghiên cứu dựa trên cơ sở lí thuyết về chất lượng và hiệu quả đầu tư Ngày nhận lại: công theo mô hình kinh tế mới, thực hiện phân tích đánh giá tình hình 30/01/2015 quản lí chất lượng và hiệu quả đâu tư công tại VN với mục tiêu: () Ngày duyệt đăng: Phát hiện những hạn chế trong quản lí, đánh giá chất lượng và hiệu quả đầu tư công: và (ii) Khuyến nghị các giải pháp nhăm nâng cao 11/11/2015 chất lượng và hiệu quả đầu tư công tại VN. Kết quả nghiên cứu cho Mã số: thấy chất lượng và hiệu quả đầu tư công ở VN còn hạn chế; chưa tìm 2014-H-S4 thấy bằng chứng về tính hiệu quả trong ngăn hạn. Tuy nhiên, đầu tư công và tăng trưởng kinh tế có mỗi quan hệ trong dài hạn. Nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng và hiệu quá đầu tư công tại VN giai đoạn đến năm 2020, cần thiết phái thực hiện các giải pháp: (ï) Điều chính cơ cấu, danh mục đầu tư hợp lí; (¡¡) Cái thiện môi trường thê ché; (iii) Kiém soat hiéu qua dau tu; va (iv) Đôi mới hệ thống giám sát đầu tư công.
Abstract Based on the theories on quality and efficiency of public investment and on the ground of new economic model, this study carries out an analytical assessment of the management of Vietnam’s public investment, with the primary aim to detect constraints on and propose solutions to its quality and efficiency. The findings indicate that both Từ khóa: the public investment quality and efficiency of Vietnam reveal certain Đầu tư công, chất lượng, limitations, and no evidence can be found for the effectiveness of hiệu quả đâu tư công, mô investment expenditures in short terms, although a long-term relation hình ARDL, DOLS. exists between the public investment and economic growth. A few comprehensive solutions to its enhancement until 2020 are as follows: Keywords: (i) Rationally adjusting investment structures and porfolios, (ti) Public investment, Improving institutional environment; (iii) Controlling investment quality, efficiency, efficiency; and (iv) Modernizing the monitoring system for the public ARDL, DOLS.
Diệp Gia Luật. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 26(11), 02-24 3 1. Giới thiệu Ở VN, đầu tư công giữ vai trò quan trọng trong tổng đầu tư toàn xã hội. Những năm qua, đầu tư công mang lại nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Hiệu ứng tích cực của đầu tư công đã mang lại những thành quả to lớn, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đây kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, nâng cao mức sống của người dân, ôn định kinh tế vĩ mô và đóng góp đáng kể vào lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Đầu tư công còn góp phần đây nhanh chuyển dịch cơ cầu kinh tế, tạo công ăn việc làm; định vị và củng cô nền kinh tế đất nước trong mối quan hệ khu vực và thế giới. Tuy nhiên, nhận định về chất lượng hiệu quả và chỉ tiêu đánh giá đầu tư công có sự khác nhau. Barro (1990) dựa trên mô hình tăng trưởng nội sinh và đầu tư công làm tăng lợi nhuận từ các yếu tổ sản xuất hiệu quả gắn liền với tác động tăng trưởng dài hạn của nên kinh tế.
Mandl & cộng sự (2008) cho rằng đánh giá hiệu quả tập trung vào đánh giá sự thành công trong việc sử dụng các nguồn lực để dạt được mục tiêu. Cơ chế truyền dẫn là đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu phát triển làm tăng vốn con người và công nghệ mới; từ đó tăng năng suất lao động và cuối cùng làm tăng sản lượng (Afonso & cộng sự, 2005). Việc đo lường chất lượng đầu tư công cũng bao hàm luôn tính hiệu quả (Mihaiu & cộng sự, 2010). Ở VN, chưa có nghiên cứu nào đưa ra nhận định một cách đầy đủ về chất lượng, hiệu quả đầu tư công cũng như khung lí thuyết dé đo lường.
Nghiên cứu này tập trung vào giải quyết các mục tiêu cơ bản sau: - Nhận diện cơ sở và khuôn khô hướng đến đầu tư công hiệu quả: - Đánh giá hiệu quả đầu tư công tại VN giai đoạn từ 2005-2012; - Kiểm định thực nghiệm nhằm củng cố các nhận định về những tác nhân làm giảm chất lượng và hiệu quả đầu tư công: - Đề xuất các giải pháp cải cách thể chế và khuôn khổ pháp lí cải thiện các vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công. Để giải quyết các mục tiêu trên, nghiên cứu sử dụng các số liệu thống kê, báo cáo đánh giá về chất lượng hiệu quả đầu tư công. Đồng thời, tác giả sử dụng các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định hiệu quả đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế để phát hiện những khoảng cách giữa thực tế và lí thuyết trong lựa chọn, thực hiện đầu tư công. 4 Diệp Gia Luật.
Tạp chí Phát triên Kinh tê, 26(11), 02-24 2. Cơ sở lí thuyết về chất lượng và hiệu quá đầu tư công 2. Khung lí thuyết đánh giá chất lượng và hiệu quả đấu tư công Các nghiên cứu lí thuyết để cập đến kênh truyền dẫn của tài chính công đến tăng trưởng kinh tế. Afonso và cộng sự (2005) để xuất 4 kênh truyền dẫn chính: (¡) Khuôn khổ thể chế (Các định nghĩa chuẩn vẻ luật pháp, quy định); (ii) Hệ thống thuế; (iii) Các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; và (iv) Chỉ tiêu công (như đầu tư về giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, viễn thông v.
Một số chính sách tài khoá tạo ra tăng trưởng trong dài hạn, nhưng trong các mô hình nội sinh hiện dai, chi tiêu công cũng là một yếu tổ tạo nên tăng trưởng (Zaler & Durnecker, 2003). [ Các yếu tố môi trường | xử | `7 Đầu vào >| Đầura Mục tiêu 4 Hiệu suất Hiệu quả | | Hiệu quả Hình 1. Mối quan hệ giữa hiệu suất và hiệu quả Nguon: Mandl & cộng sự (2008).