Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, pháp luật giữ vai trò là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước. Để bộ máy hành chính vận hành thông suốt và ứng phó kịp thời với các biến động kinh tế - xã hội, vị trí của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người đứng đầu Chính phủ và người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương có ý nghĩa then chốt. Hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn xây dựng và ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ vẫn bộc lộ những bất cập như quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, một số quyết định thiếu tính khả thi hoặc gây tác động xáo trộn khi triển khai tại cơ sở. Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tác giả Thái Bích Phương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở Việt Nam hiện nay".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ (khái niệm, tính chất, quy trình và tiêu chí đánh giá).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở Việt Nam giai đoạn 2018 – tháng 10/2023 trên cả hai phương diện: số lượng, chất lượng đạt được và các hạn chế, vướng mắc.
  3. Xác định các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong công tác ban hành quyết định.
  4. Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở Việt Nam, bao gồm các quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn thực hiện thẩm quyền ban hành quyết định.
  • Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ban hành quyết định (văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, thống kê và đánh giá dữ liệu thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2023.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống hành chính nhà nước và thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Khung lý thuyết: Lý luận về cơ quan hành chính nhà nước, thẩm quyền và chế độ làm việc thủ trưởng của người đứng đầu hệ thống hành pháp; lý thuyết về quyết định quản lý nhà nước và kỹ thuật lập quy.
  • Cơ sở pháp lý:
    • Hiến pháp năm 2013 (Điều 14, Điều 70, Điều 88, Điều 94, Điều 98, Điều 99).
    • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đặc biệt là Điều 4, Điều 20, Điều 36, Điều 97, Điều 100.
    • Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
    • Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    • Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật, thẩm quyền, trình tự thủ tục và phân loại các quyết định hành chính của Thủ tướng Chính phủ.
  • Phương pháp lịch sử: Làm rõ quá trình hình thành, phát triển các quy định pháp luật về vị trí pháp lý của Thủ tướng và thẩm quyền ban hành quyết định qua các thời kỳ.
  • Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn: Đối chiếu các tiêu chí chất lượng pháp lý (tính chính trị, tính hợp hiến, hợp pháp, tính hợp lý) với số liệu thực tế ban hành văn bản và các vụ việc điển hình để xác định khoảng cách giữa quy định và thực thi.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu văn bản và số liệu thống kê các quyết định của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2018 – 10/2023 trích xuất từ hệ thống cơ sở dữ liệu Thư viện Pháp luật.
  • Dữ liệu báo cáo tổng kết của các bộ, ngành (điển hình là Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2022 và phương hướng nhiệm vụ năm 2023 của Bộ Tư pháp).
  • Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó (luận văn thạc sĩ của Đỗ Hương Ly năm 2020; khóa luận tốt nghiệp của Đinh Thị Huệ năm 2021; bài viết của Nguyễn Phương Thảo năm 2016, Nguyễn Phước Thọ năm 2018, Nguyễn Nhật Thanh năm 2019, Cao Vũ Minh và Vũ Văn Hân năm 2019).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Tác giả làm rõ vị trí pháp lý của Thủ tướng Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015. Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp trách nhiệm tập thể, có thẩm quyền lãnh đạo, điều hành toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Về bản chất, quyết định của Thủ tướng Chính phủ là văn bản hành chính dưới luật, được chia thành hai nhóm:

  1. Quyết định mang tính quy phạm pháp luật (VBQPPL): Ban hành căn cứ theo Điều 20 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi 2020) để đặt ra các biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của hệ thống hành chính, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương hoặc các biện pháp chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra việc thực thi chính sách.
  2. Quyết định mang tính áp dụng pháp luật (văn bản cá biệt): Ban hành căn cứ theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 154/2020/NĐ-CP để giải quyết các vấn đề cá biệt, áp dụng một lần như: phê duyệt chiến lược, quy hoạch, đề án, kế hoạch; giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội; thành lập trường đại học, ban chỉ đạo, hội đồng; điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, kỷ luật cán bộ, công chức.

Quy trình ban hành quyết định quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ được hệ thống hóa qua 3 bước luật định:

  • Bước 1: Soạn thảo dự thảo: Cơ quan chủ trì tổ chức tổng kết, đánh giá tác động chính sách, soạn thảo, đăng tải lấy ý kiến rộng rãi tối thiểu 60 ngày trên Cổng thông tin điện tử và lấy ý kiến các bộ liên quan bằng văn bản (các bộ trả lời trong thời hạn 20 ngày).
  • Bước 2: Thẩm định dự thảo: Bộ Tư pháp thực hiện thẩm định trước khi trình Thủ tướng. Với các dự thảo phức tạp, Bộ thành lập Hội đồng thẩm định liên ngành.
  • Bước 3: Kiểm tra hồ sơ và trình ký: Văn phòng Chính phủ kiểm tra hồ sơ trong thời hạn 10 ngày, tổ chức họp xử lý các vấn đề còn ý kiến khác nhau trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Về tiêu chí đánh giá chất lượng quyết định, tác giả xác lập 3 nhóm tiêu chí:

  • Tiêu chí về chính trị: Thể chế hóa chủ trương của Đảng, bảo đảm tính dân chủ và phục vụ nhân dân.
  • Tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp: Đúng thẩm quyền, căn cứ pháp lý rõ ràng, phù hợp luật cấp trên và đúng trình tự thủ tục.
  • Tiêu chí về tính hợp lý: Hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và công dân, tính khả thi, tính đồng bộ hệ thống và tuân thủ kỹ thuật lập quy theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP.

Chương 2: Thực trạng ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở Việt Nam hiện nay

Tác giả thống kê số lượng quyết định do Thủ tướng Chính phủ ban hành trong hơn 5 năm (từ 2018 đến tháng 10/2023) với tổng số lượng biến động theo từng năm: năm 2018 (344 quyết định), năm 2019 (255 quyết định), năm 2020 (422 quyết định), năm 2021 (512 quyết định), năm 2022 (348 quyết định), và 10 tháng đầu năm 2023 (276 quyết định).

Lĩnh vực 2018 2019 2020 2021 2022 1-10/2023
Bộ máy hành chính 96 83 106 105 53 49
Tài nguyên - Môi trường 104 43 70 62 51 24
Tài chính nhà nước 41 37 41 68 49 28
Văn hóa - Xã hội 67 37 62 68 32 33
Thương mại 29 27 60 60 44 22
Xây dựng - Đô thị 31 18 44 56 50 28
Giao thông vận tải 9 11 36 25 30 18
Giáo dục 11 14 14 14 27 18
Công nghệ thông tin 2 10 17 19 18 15
Thể thao - Y tế 6 7 14 29 10 7
Các lĩnh vực khác 50 39 168 238 159 145
Tổng số 446 326 632 744 523 387

(Nguồn tổng hợp từ Thư viện Pháp luật do tác giả thống kê)

Đánh giá về chất lượng và thành tựu:

  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, thích ứng linh hoạt trước biến động thực tiễn (các quyết định ứng phó khẩn cấp đại dịch COVID-19 như Quyết định 447/QĐ-TTg, Quyết định 15/2020/QĐ-TTg, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, Quyết định 28/2021/QĐ-TTg).
  • Ban hành nhiều quyết định an sinh xã hội, cứu trợ thiên tai (các Quyết định xuất cấp gạo và kinh phí 1629/QĐ-TTg, 1676/QĐ-TTg, 1823/QĐ-TTg cho miền Trung năm 2020; Quyết định 22/2023/QĐ-TTg về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù).
  • Thúc đẩy công tác đào tạo nhân lực pháp luật (Quyết định 1155/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP.HCM thành các trường trọng điểm).

Những hạn chế, bất cập điển hình:

  • Gây khó khăn, xáo trộn chính sách tại địa phương: Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi làm cho nhiều địa phương ra khỏi diện đặc biệt khó khăn bị cắt giảm đồng loạt các chính sách hỗ trợ học phí, tiền ăn bán trú, bảo hiểm y tế. Tại Lạng Sơn, 53 trường với 6.998 học sinh không còn được miễn giảm học phí, 3.003 trẻ mầm non và 12.004 học sinh mất hỗ trợ tiền ăn/gạo. Tại Lào Cai, khoảng 135.000 học sinh (chiếm gần 60% toàn tỉnh) bị cắt chế độ hỗ trợ.
  • Nội dung thiếu tính khả thi: Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/04/2018 thí điểm bán đấu giá thuốc lá ngoại nhập lậu bị tịch thu còn chất lượng để xuất khẩu. Do thiếu quy chuẩn đánh giá chất lượng và thuốc lá lậu không có ngày sản xuất/hạn sử dụng nên không thể kiểm định lô hàng đại diện, dẫn đến tồn đọng hơn 9 triệu bao thuốc lá lậu đến tháng 7/2019. Ngày 10/07/2020, Văn phòng Chính phủ phải ban hành Công văn 5654/VPCP-V.I dừng đấu giá để quay lại tiêu hủy toàn bộ.
  • Bất cập về thứ bậc pháp lý: Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 chưa phân định rành mạch thứ bậc hiệu lực pháp lý giữa Nghị định của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Nguyên nhân: Do sự phối hợp liên ngành bị cắt khúc; việc lấy ý kiến nhân dân 60 ngày còn hình thức, một chiều; thiếu quy định kiểm tra VBQPPL riêng đối với quyết định của Thủ tướng; đội ngũ cán bộ pháp chế kiêm nhiệm nhiều (toàn quốc có 9.646 người làm pháp chế nhưng có tới 6.857 người kiêm nhiệm); kinh phí khảo sát thực tế còn hạn hẹp.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên các nguyên nhân đã chỉ ra, khóa luận xác lập 5 nhóm giải pháp:

  • Giải pháp về pháp lý (Mục 3.1): Hoàn thiện quy định của Luật Ban hành VBQPPL; minh định rõ thứ bậc hiệu lực giữa nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng; xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát văn bản đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Giải pháp về tổ chức thực hiện (Mục 3.2): Đổi mới thực chất quy trình lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động; khắc phục tính hình thức trong thời hạn tham vấn 60 ngày; nâng cao chất lượng công tác thẩm định của Bộ Tư pháp và kiểm tra hồ sơ của Văn phòng Chính phủ.
  • Giải pháp về cơ sở vật chất và nguồn lực (Mục 3.3): Tăng cường kinh phí phục vụ công tác điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn độc lập thay vì chỉ dựa vào báo cáo hành chính từ địa phương gửi lên.
  • Giải pháp về con người (Mục 3.4): Chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, phân tích chính sách và kỹ thuật soạn thảo; giảm tỷ lệ kiêm nhiệm, tăng tỷ lệ cán bộ chuyên trách; khắc phục tư duy lợi ích cục bộ ngành trong ban soạn thảo.
  • Giải pháp khác (Mục 3.5): Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở dữ liệu văn bản và tiếp nhận phản hồi chính sách từ người dân, doanh nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và quy trình lập quy đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định 154/2020/NĐ-CP.
  • Thống kê toàn diện bức tranh ban hành quyết định giai đoạn 2018 – 10/2023 với hơn 2.000 quyết định trên 20 lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau.
  • Chỉ ra các vướng mắc thực tiễn thông qua các case-study cụ thể: chính sách hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số tại Quyết định 861/QĐ-TTg, việc xử lý thuốc lá ngoại nhập lậu tại Quyết định 20/2018/QĐ-TTg, và sự thiếu vắng cơ chế kiểm tra quyết định của Thủ tướng trong Luật Ban hành VBQPPL.

Giải pháp đề xuất:

  • Đề xuất hoàn thiện các quy phạm điều chỉnh thứ bậc hiệu lực văn bản, chuẩn hóa quy trình tham vấn cộng đồng 60 ngày trên Cổng thông tin điện tử, kiện toàn 9.646 nhân sự làm công tác pháp chế trên toàn quốc và xây dựng cơ chế kiểm soát văn bản chặt chẽ.

Đóng góp của tác giả:

  • Đề tài đóng góp tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về một loại hình văn bản quản lý nhà nước đặc thù (quyết định của Thủ tướng Chính phủ), phân định rõ ranh giới giữa văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật cá biệt.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn từ quá trình thi hành các quyết định giai đoạn 2018 – 2023 làm cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản trong tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu thống kê thực tiễn của khóa luận dừng lại ở mốc thời gian tháng 10 năm 2023. Các giải pháp tại Chương 3 tập trung chủ yếu ở cấp độ định hướng hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện chung mà chưa đi sâu vào từng lĩnh vực quản trị chuyên ngành cụ thể (như tài chính, đất đai hay y tế).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động sâu của các quyết định phân cấp, phân quyền giữa Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh; nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp hoặc kiểm tra độc lập đối với các quyết định hành chính cá biệt của người đứng đầu hệ thống hành pháp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, Luật Hành chính, Quản lý Nhà nước, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Quy trình lập quy 3 bước và hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng quyết định tại Chương 1.
    • Bảng tổng hợp số liệu phân loại quyết định theo 20 lĩnh vực quản lý nhà nước từ năm 2018 đến tháng 10/2023 tại Chương 2.
    • Phân tích thực tế về các bất cập lập quy tại Quyết định số 861/QĐ-TTg và Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ có phải luôn luôn là văn bản quy phạm pháp luật không?
Không. Theo Điều 20 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và Khoản 2 Điều 3 Nghị định 154/2020/NĐ-CP, quyết định của Thủ tướng gồm hai loại: quyết định quy phạm pháp luật (đặt ra biện pháp chỉ đạo, điều hành chung) và quyết định áp dụng pháp luật / cá biệt (phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, bổ nhiệm cán bộ, thành lập tổ chức, khen thưởng, kỷ luật...).

2. Vì sao Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg về thí điểm bán đấu giá thuốc lá ngoại nhập lậu bị bãi bỏ sau 2 năm thực hiện?
Do thiếu tính khả thi: pháp luật không có quy chuẩn kỹ thuật cụ thể để đơn vị chuyên môn giám định chất lượng thuốc lá lậu; bao thuốc lá lậu không có ngày sản xuất, hạn sử dụng nên không thể lấy mẫu đại diện cho cả lô hàng để kiểm định chất lượng xuất khẩu, dẫn đến tồn đọng hơn 9 triệu bao thuốc lá lậu không xử lý được.

3. Tác động bất cập lớn nhất của Quyết định số 861/QĐ-TTg đối với chính sách giáo dục vùng cao là gì?
Khi các xã chuyển từ diện đặc biệt khó khăn (khu vực III, II) sang khu vực I, học sinh đồng loạt mất các quyền lợi hỗ trợ theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP (hỗ trợ 569.000 đồng và 15kg gạo/tháng, giảm 70% học phí) và Nghị định 105/2020/NĐ-CP (tiền ăn mầm non 160.000 đồng/tháng), ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục nghìn học sinh tại các tỉnh như Lạng Sơn, Lào Cai.

4. Khóa luận chỉ ra điểm vướng mắc gì về thẩm quyền kiểm tra VBQPPL đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ?
Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi 2020) chỉ quy định kiểm tra đối với VBQPPL của Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; chưa có quy định và cơ chế cụ thể để kiểm tra văn bản đối với các quyết định do Thủ tướng Chính phủ ban hành khi có dấu hiệu trái pháp luật hoặc mâu thuẫn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Thái Bích Phương đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam giai đoạn 2018 – tháng 10/2023. Công trình làm rõ vai trò điều hành của người đứng đầu hệ thống hành pháp, chỉ ra những kết quả đạt được về số lượng và chất lượng thể chế hóa đường lối của Đảng, đồng thời phân tích các hạn chế thực tế trong khâu tham vấn chính sách, đánh giá tính khả thi và thẩm định văn bản. Các giải pháp đề xuất tại khóa luận mang tính hệ thống, góp phần cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng lập quy và hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay.