Nghiên cứu cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Luận án phân tích cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý và phát triển.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Cấu trúc sở hữu

1.2. Cấu trúc sở hữu theo mức độ tập trung

1.3. Cấu trúc sở hữu theo đặc tính cổ đông

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

6. CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ VỀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Tóm tắt

I. Cấu trúc sở hữu và hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng cấu trúc sở hữu có thể ảnh hưởng đến quyết định quản lý và hoạt động kinh doanh. Theo lý thuyết, cấu trúc sở hữu tập trung có thể dẫn đến việc giảm thiểu chi phí giám sát, trong khi cấu trúc sở hữu phân tán có thể tạo ra sự thiếu động lực trong việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thường bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự tập trung quyền sở hữu. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng hiệu quả hoạt động có thể được cải thiện khi tỷ lệ sở hữu nhà nước giảm xuống dưới 50%. Điều này cho thấy rằng việc tái cấu trúc doanh nghiệp có thể là một giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.1. Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu cho thấy rằng cấu trúc sở hữu có thể ảnh hưởng đến hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Các hình thức sở hữu khác nhau, như sở hữu nhà nước, tư nhân và nước ngoài, đều có tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động. Theo các nghiên cứu, doanh nghiệp nhà nước thường có hiệu suất kinh doanh thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân. Điều này có thể được giải thích bởi sự thiếu cạnh tranh và động lực trong quản lý. Hơn nữa, việc cải cách doanh nghiệp thông qua tư nhân hóa có thể mang lại lợi ích cho hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả các trường hợp tư nhân hóa đều dẫn đến kết quả tích cực, và một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng sở hữu nhà nước vẫn có thể có tác động tích cực trong một số trường hợp nhất định.

1.2. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và cấu trúc sở hữu

Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt độngcấu trúc sở hữu là một chủ đề nghiên cứu quan trọng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động có thể ảnh hưởng đến cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước. Khi doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, có thể dẫn đến việc giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước, tạo điều kiện cho sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân. Điều này không chỉ giúp cải thiện hiệu suất kinh doanh mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, cần có các chính sách hỗ trợ để đảm bảo rằng quá trình này diễn ra một cách hiệu quả và bền vững.

II. Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách nhằm cải cách doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các chính sách như tư nhân hóathoái vốn nhà nước đã được triển khai nhằm giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Một số doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ sở hữu cao, dẫn đến việc thiếu động lực trong quản lý và hoạt động. Do đó, cần có các giải pháp cụ thể để thúc đẩy cải cách doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động.

2.1. Tác động của chính sách đến cấu trúc sở hữu

Các chính sách của Chính phủ Việt Nam đã có tác động đáng kể đến cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước. Việc tư nhân hóa đã giúp tăng cường sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh trong chính sách để đảm bảo rằng quá trình này diễn ra một cách hiệu quả và bền vững. Các chính sách cần phải tạo ra một môi trường cạnh tranh, khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp nhà nước.

2.2. Thực tiễn cải cách doanh nghiệp nhà nước

Thực tiễn cải cách doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Việc thoái vốn nhà nước chưa đạt được mục tiêu đề ra, và nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Cần có các giải pháp cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình cải cách, từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cấu trúc sở hữu Vốn chủ sở hữu là một trong hai thành tố cơ bản tạo nên nguồn vốn của doanh nghiệp, bên cạnh nợ hay vốn vay. Vốn chủ sở hữu thể hiện giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp, được đo lường bằng giá trị còn lại của tài sản sau khi loại trừ các nghĩa vụ nợ. Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ giữa các thành phần chủ sở hữu doanh nghiệp, được xác định bằng tương quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu do các chủ sở hữu nắm giữ, thể hiện tương quan quyền sở hữu trong doanh nghiệp.

Quyền sở hữu bao gồm ba quyền cơ bản: quyền chiếm hữu, quyền định đoạt, quyền sử dụng. Do đó cấu trúc sở hữu có vai trò quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, tác động đến mọi khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp từ quyết định tài trợ, tổ chức sản xuất kinh doanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mua lại, sát nhập. Phân loại về cấu trúc sở hữu thường được nghiên cứu theo hai khía cạnh: theo mức độ tập trung và theo đặc tính cổ đông: 1. Cấu trúc sở hữu theo mức độ tập trung Cấu trúc sở hữu được phân loại thành: (i) sở hữu tập trung (concentrated ownership) và (ii) sở hữu phân tán (dispersed ownership): (i) Sở hữu tập trung là cấu trúc sở hữu mà trong đó phần lớn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thuộc về số ít các chủ sở hữu, hay còn được hiểu là một hoặc một số ít các cổ đông nắm giữ nhiều cổ phiếu (được gọi là cổ đông lớn) so với phần còn lại.

Mức độ tập trung sở hữu của những cổ đông lớn có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro và chi phí giám sát, được giải thích bởi lý thuyết đại diện (Agency theory) với vấn đề về chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu. Jensen và Meckling (1976) đã đưa ra khái niệm về chi phí đại diện là “tổng các chi phí giám sát của người ủy quyền, chi phí của việc ràng buộc người tác nghiệp nhằm thực hiện các nhiệm vụ tương thích với các mục tiêu hoạt động của người ủy quyền hay thực thể kinh tế, và của các tổn thất còn lại mà có thể quy cho sự chệch hướng trong các quyết yếu tối ưu được thực hiện bởi người tác nghiệp ngược lại với các quyết định mà lẽ ra đã được người ủy quyền thực hiện nếu như họ có liên quan 8 trực tiếp đến các quyết định”. Jensen và Meckling (1976) chứng minh sự tài trợ vốn chủ sở hữu và tài trợ bằng vay nợ bên ngoài có chi phí đại diện từ các vấn đề về thông tin cũng như tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát doanh nghiệp. Vấn đề chi phí đại diện có thể phân tích như sau: - Thứ nhất, mâu thuẫn giữa chủ sở hữu (người ủy quyền) và nhà quản trị (người tác nghiệp): Nhà quản trị có thể vì lợi ích riêng của mình mà không đưa ra các quyết định vì lợi ích của chủ sở hữu, thậm chí làm ảnh hưởng xấu đến giá trị doanh nghiệp, đi ngược với mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

Để hạn chế tổn thất về lợi ích của mình, chủ sở hữu phải chi phí để kiểm soát, điều chỉnh hành vi nhà quản trị thông qua lương, thưởng, giám sát. Đây chính là chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu. - Thứ hai, mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và chủ nợ: Do vấn đề thông tin bất cân xứng, chủ nợ không thể có được hiểu biết về doanh nghiệp như chủ sở hữu cũng như nhà quản trị; trong khi chủ sở hữu và nhà quản trị vì lợi ích, mục tiêu của mình có thể tìm cách tăng sử dụng nợ đầu tư vào các quyết định đầu tư rủi ro song kỳ vọng lợi ích cao. Vì vậy để hạn chế rủi ro đòi hỏi chủ nợ phải tìm cách kiểm soát (ví dụ thẩm định dự án, giám sát dự án, .) và do đó phát sinh và gia tăng chi phí.

Đây chính là chi phí đại diện của nợ. Vì vậy, cấu trúc sở hữu tập trung có tác động đến cấu trúc quản trị doanh nghiệp, các cổ đông lớn thường có xu hướng kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị hoặc ban điều hành. Với số lượng cổ phần đáng kể mà các cổ đông lớn sở hữu, họ có quyền biểu quyết tương ứng nên đóng vai trò chi phối trong kiểm soát doanh nghiệp. Do đó, hệ thống sở hữu tập trung còn được xem là hệ thống nội bộ.

(ii) Sở hữu phân tán là cấu trúc sở hữu mà trong đó không có một hoặc một số cổ đông thiểu số nào sở hữu đa số cổ phiếu của doanh nghiệp và có quyền chi phối doanh nghiệp. Với hình thức sở hữu phân tán, quyền kiểm soát doanh nghiệp do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp và không tham gia vào ban điều hành doanh nghiệp. Điều này cũng được giải thích bởi lý thuyết đại diện với vấn đề chi phí đại diện của chủ sở hữu, ngoài ra còn là vấn đề chi phí cơ hội của việc tham gia kiểm soát doanh nghiệp.

Hệ thống sở hữu phân tán còn được xem là hệ thống bên ngoài. Mỗi loại hình cấu trúc sở hữu doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm. Với cấu trúc sở hữu tập trung thì các cổ đông lớn có động cơ để kiểm soát, nhờ đó giảm thiểu được vấn đề sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành. Bởi vì quyền sở 9 hữu đáng kể của họ, những cổ đông này sẽ có động lực để kiểm soát quản lý vì họ có thể thu hồi chi phí kiểm soát, không giống như các cổ đông phân tán nhỏ.

Sự giám sát lớn hơn này đảm bảo rằng các quyết định quản lý tốt được thực hiện. Những cổ đông lớn có thể ngăn chặn quản lý khỏi việc đầu tư thiếu hiệu quả. Tuy nhiên mặt trái của loại hình cấu trúc sở hữu này là các cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát có thể dùng quyền lực của mình tác động đến các quyết định của hội đồng quản trị nhằm đem lại lợi ích cho mình; thậm chí các cổ đông lớn có khả năng sử dụng quyền lực của họ để khai thác lợi ích cá nhân từ việc kiểm soát chi phí của các cổ đông thiểu số, gây hại cho lợi ích của cổ đông thiểu số. Việc khai thác lợi ích cá nhân vượt quá việc giám sát các quyết định quản lý.

Các cổ đông lớn có thể khai thác giá trị cho mình mà không cần tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp trong khi các cổ đông nhỏ thường thiếu tiếng nói cũng như quyền lực để kiểm tra giám sát hoạt động doanh nghiệp. Trái với cấu trúc sở hữu tập trung, cấu trúc sở hữu phân tán với nhiều cổ đông sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chênh lệch mục tiêu, thực hiện các quyết định mang lại lợi ích chung cho doanh nghiệp, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thay vì lợi ích của một nhóm thiểu số cổ đông lớn. Tuy nhiên, trong doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu phân tán lại tồn tại hiện tượng “Người ăn theo” khi các cổ đông không tham gia kiểm soát doanh nghiệp và hưởng lợi trên thành quả từ sự nỗ lực của các cổ đông khác là thành viên ban điều hành doanh nghiệp. Hoặc các quyết định của các cổ đông đối với những vấn đề lớn của doanh nghiệp có thể kém hiệu quả hơn do vấn đề thông tin bất đối xứng.

Cấu trúc sở hữu tập trung sẽ tránh được vấn đề này và cho phép giám sát cũng như đưa ra các quyết định tốt hơn. Cấu trúc sở hữu theo đặc tính cổ đông Cấu trúc sở hữu bao gồm các tỷ lệ sở hữu khác nhau liên quan đến các đặc tính của cổ đông như: sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, và sở hữu nước ngoài; sở hữu tổ chức, sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình. Tùy thuộc vào các yếu tố như lịch sử, chế độ chính trị, pháp luật, sự phát triển của nền kinh tế, của thị trường vốn,. mà loại hình cấu trúc sở hữu ở mỗi quốc gia, khu vực sẽ phát triển với mức độ, vai trò, vị trí khác nhau.

Trên cơ sở tính chất sở hữu doanh nghiệp, nếu căn cứ theo tiêu chí sở hữu nhà nước và tư nhân có thể phân loại doanh nghiệp thành: doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp; hoặc phân loại theo các loại hình doanh nghiệp chủ yếu như: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần. Từng quốc gia có quy định khác nhau về phạm vi tổ chức kinh tế được coi là doanh nghiệp nhà nước. Trong bộ hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN (OECD, 2019), bất kỳ thực thể doanh nghiệp nào được luật 10 pháp công nhận là doanh nghiệp, trong đó nhà nước thực thi quyền sở hữu, nên được coi là một DNNN; những doanh nghiệp này có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc công ty hợp danh hữu hạn. Điểm nhấn mạnh trong quan điểm của OECD (2019) là “nhà nước thực thi quyền sở hữu”, được hiểu là các doanh nghiệp thuộc kiểm soát của nhà nước, hoặc do nhà nước là chủ sở hữu cuối cùng của đa số cổ phần có quyền biểu quyết hoặc thực thi mức độ kiểm soát tương đương.

Sở hữu nhà nước là một thành phần cổ đông đặc biệt, theo OECD (2019), nhà nước thực hiện quyền sở hữu doanh nghiệp vì lợi ích công chúng; người dân của quốc gia mà chính phủ đó thực thi quyền sở hữu chính là chủ sở hữu cuối cùng của doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng của việc nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu doanh nghiệp, theo thông lệ tốt của các nước OECD là tối đa hóa giá trị cho xã hội, thông qua việc phân bổ hiệu quả nguồn lực. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Quan điểm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một phạm trù rất rộng, được tiếp cận trên nhiều khía cạnh tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Cấu trúc sở hữu và hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức tổ chức và quản lý các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách và tối ưu hóa cơ cấu sở hữu để nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các chính sách và chiến lược cần thiết để cải thiện hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2020 từ thực tiễn tại thành phố hà nội, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về vai trò của người đại diện trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty tnhh dlt quảng ngãi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả kinh doanh. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp việt nam sẽ cung cấp thông tin về cách quản lý doanh nghiệp hiệu quả thông qua kế toán quản trị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước và hiệu quả hoạt động của chúng.