CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG NGUỒN LỰC, TÁI PHÂN BỔ VÀ TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1.1 Các nghiên cứu về phân bổ sai nguồn lực trên thế giới Vai trò của phân bổ sai đã được phân tích và nhấn mạnh từ nghiên cứu của Restuccia và Rogerson (2008), Hsieh and Klenow (2009), và Bartelsman cùng các cộng sự (2013).Vai trò định lượng ảnh hưởng của phân bổ sai đến năng suất là vấn đề trung tâm của các nghiên cứu này. Restuccia và Rogerson (2008), Hsieh and Klenow (2009), Bartelsman cùng cộng sự (2008) cho rằng mức phân bổ sai nguồn lực ở các nước nghèo tạo ra khoảng cách TFP giữa các nước giàu và nước nghèo. Ban đầu, việc giải thích về lý do xuất hiện phân bổ sai nguồn lực là sự biến dạng các chính sách như gánh nặng thuế (thuế sản xuất và thuế trên vốn) hay trợ cấp, sức mạnh thị trường và sự không hiệu quả của thị trường tài chính làm cho các công ty khó có được nguồn vốn mà họ có cần mở rộng hoạt động kinh doanh và đồng thời cho phép các công ty thất bại tồn tại trong cùng một thị trường. Sau này, các nguyên nhân gây ra phân bổ sai nguồn lực có thể kể đến như lãi suất cao, chi phí điều chỉnh, chi phí cố định và chi phí chìm, rào cản thương mại, mức biên lợi của doanh nghiệp và những khiếm khuyết của thị trường tín dụng.
Việc loại bỏ các biến dạng như vậy có thể mang lại các lợi ích đáng kể cho nền kinh tế. Restuccia và Rogerson (2008) đã phát triển một mô hình tăng trưởng với các cơ sở kinh doanh không đồng nhất và hiệu chỉnh nó sử dụng dữ liệu của Mỹ. Nghiên cứu đề cập về phân bổ không đúng và tăng trưởng năng suất, tập trung vào phân bổ lại các yếu tố sản xuất của các đơn vị sản xuất không đồng nhất như một nguồn quan trọng của sự khác biệt TFP giữa các quốc gia. Họ cho thấy rằng các chính sách dẫn đến với sự khác biệt giá cả bởi nhà sản xuất riêng lẻ có thể dẫn đến giảm đáng kể về sản lượng và TFP trong khoảng 30 - 50%.
Nghiên cứu đã đạt được các điểm quan trọng kết nối các mô hình cấu trúc của phân bổ không đúng với dữ liệu vi mô cấp độ doanh nghiệp theo một cách hoàn chỉnh hơn. Nghiên cứu của Hsieh và Klenow (2009) giải thích mối liên hệ giữa tăng trưởng và biến dạng cụ thể trong công ty và kết luận rằng tốc độ tăng trưởng năng suất cao hơn có thể đạt được bằng cách loại bỏ biến dạng đầu vào và đầu ra. Trong đó, các biến dạng được ước tính từ dữ liệu giá trị gia tăng và các yếu tố đầu vào đối với các doanh nghiệp tại Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Kết quả cho thấy các biến dạng lớn hơn nhiều ở.
7 Trung Quốc và Ấn Độ so với Mỹ. Hsieh và Klenow (2009) nhận thấy rằng việc loại bỏ các biến dạng có một tác động đáng kể lên TFP từ 30 - 50% so với mức chuẩn của Hoa Kỳ và khoảng trên 80% trong một trường hợp tự do hóa hoàn toàn ở Trung Quốc và Ấn Độ. Cụ thể, nếu Trung Quốc và Ấn Độ chuyển đến mức hiệu quả của Mỹ, TFP sẽ được đẩy mạnh 39,3% đối với Trung Quốc và 46,9% đối với Ấn Độ. Do đó, loại bỏ phân bổ không đúng nguồn lực và biến dạng chính sách là một khía cạnh quan trọng của TFP ở các nước đang phát triển.
Họ cũng chỉ ra rằng một trong những thuộc tính chính của phân bổ không đúng ở Trung Quốc là quyền sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế. Bài báo của Bond và các cộng sự (2013) nghiên cứu tác động của những gia tăng thuế quan đối với TFP gộp. Một đóng góp quan trọng của bài báo của Bond và các cộng sự là xây dựng một bộ dữ liệu bao trùm nền kinh tế Mỹ trong thời kỳ trước và sau khi thi hành Dự luật Smoot-Hawley. Dự luật Smoot - Hawley không chỉ tăng thuế trung bình mà cả sự phân tán của thuế suất.
Thuế suất trung bình này tăng lên 46% khi thực hiện dự luật và lên 59% vào năm 1933 khi xét đến tác động của thuế nhập khẩu riêng biệt và những thay đổi giá. Bằng việc xây dựng một mô hình có thể sử dụng để đánh giá tác động định lượng của những thay đổi trong thuế quan lên TFP và phúc lợi, kết quả chỉ ra sự gia tăng trong độ phân tán trong thuế suất tăng hơn hai lần sau khi thực thi dự luật và làm giảm TFP 0,5%. Eslava và các cộng sự (2013) cũng tập trung vào của những thay đổi lớn trong thuế quan thông qua cuộc cải cách thương mại của Colombia đầu những năm 90. Họ tìm thấy bằng chứng cho thấy mức giảm trong thuế quan liên quan đến việc cải thiện phân bổ các nguồn lực.
Kênh mà họ tập trung vào là sự rút lui của cơ sở kinh doanh. Nếu các quyết định không bị bóp méo (biến dạng), các cơ sở kinh doanh năng suất thấp là các cơ sở phải rút lui khỏi thị trường sau những cải cách thương mại, và rằng việc phân bổ nguồn lực sau cải cách được cải thiện tạo tăng trưởng TFP ở Colombia bằng các mô phỏng. Vai trò của hiệu quả phân bổ trong một thập kỷ hồi phục kinh tế tại Chile được đưa ra bởi Kaiji Chen và Alfonso Irarrazabal (2014). Cụ thể, bài báo phân tích vai trò của hiệu quả phân bổ lên năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong ngành chế biến, chế tạo bằng việc áp dụng phương pháp của Hsieh và Klenow (2009).
Nghiên cứu được diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế của Chile trải qua một thập kỷ của tăng trưởng bền vững trong tổng đầu ra và năng suất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1982. Như các nghiên cứu trước đây chỉ ra, TFP là một nhân tố chính giải thích sự tăng trưởng hậu khủng hoảng sau hồi phục tại Chile. Các tác giả tìm thấy rằng loại bỏ phân bổ không đúng ngành chế biến, chế tạo làm TFP tăng thêm 40% giữa những năm 1983. Trợ cấp đầu ra cho các doanh nghiệp năng suất thấp là nguyên nhân chính của việc gây ra phân bổ không đúng trong suốt giai đoạn này.
Các doanh nghiệp có năng suất trên trung bình đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả TFP gộp sau khủng hoảng tài chính. Việc đổi mới trong khu vực ngân hàng của Chile trong giữa những năm 1980 đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bổ được quan sát. Một nghiên cứu đề cập đến vai trò của phân bổ và ảnh hưởng của chi phí điều chỉnh lên sự khác biệt trong năng suất giữa các quốc gia được tìm hiểu bởi Bartelsman cùng các cộng sự (2013). Bài nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các biến dạng chính sách cấp độ công ty lên năng suất tổng hợp.
Các tác giả chỉ ra rằng sự phân phối về năng suất và quy mô trong ngành công nghiệp có liên quan gần gũi với nhau. Điều này diễn ra mạnh mẽ tại các quốc gia phát triển như các nước Trung và Đông Âu khi trải qua sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường. Khai thác dữ liệu cấp công ty tại một số quốc gia, nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp không đồng nhất phải đối mặt với những rào cản như chi phí lao động và vốn bán cố định và các biến dạng. Mô hình sử dụng nắm bắt được một vài đặc điểm được quan sát trong dữ liệu như: (i) sự phân tán càng cao trong doanh thu thì phương sai càng lớn giữa quy mô và năng suất; (ii) những công ty mới gia nhập trong những năm đầu hoạt động có tỷ lệ thất bại cao; (iii) Hoa Kỳ có phương sai cao hơn các quốc gia khác ở Tây Âu cũng như Trung và Đông Âu; (iv) những biến dạng gây ra một tác động tiêu cực tương đối lớn về tiêu dùng.
Kết luận tóm lại chỉ ra rằng sự khác biệt trong biến dạng ám chỉ sự khác biệt đáng kể trong năng suất tổng hợp. Nghiên cứu gần đây của Epifani và Gancia (2011) về thương mại, tính không đồng nhất, mức biên lợi và phân bổ không đúng chỉ ra rằng sự không đồng nhất trong mức biên lợi gây ra bởi các rào cản thương mại có thể là một nguồn phân bổ không đúng các nguồn lực bởi vì các rào cản thương mại ảnh hưởng tới mức độ cạnh tranh và do đó ảnh hưởng tới mức biên lợi. Nghiên cứu tập trung làm thế nào toàn bộ phân phối mức biên lợi ảnh hưởng tới phân bổ không đúng nguồn lực và sau đó là phúc lợi trong các mô hình cạnh tranh không hoàn hảo. Kết luận chỉ ra rằng khi có sự không đồng nhất trong mức biên lợi, sự gia nhập của doanh nghiệp bị hạn chế.
Sự không đồng nhất mức biên lợi đòi hỏi chi phí đáng kể và sự bất đối xứng trong tự do hóa thương mại có thể làm giảm phúc lợi. Trong trường hợp này, thương mại gia tăng cạnh tranh khiến gia tăng phúc lợi. Khi có sự gia nhập tự do, sự không đồng nhất mức biên lợi có thể không gây ra giảm phúc lợi do các nhà hoạch định chính sách có thể sửa chữa được. Nếu hội nhập thương mại làm gia tăng sự phân tán mức biên lợi, phân bổ nguồn lực có.
9 thể được cải thiện bằng việc trợ cấp sản xuất trong những ngành công nghiệp cần được bảo vệ hơn. Điều này nghĩa là tự do hóa thương mại và chính sách công nghiệp trong nước bổ sung cho nhau. Đảm bảo gia nhập tự do là điều kiện tiên quyết để ngăn ngừa các tác động bất lợi từ mở cửa thương mại bất đối xứng. Camacho và Conover (2010) cũng đã kiểm tra mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và phân bổ không đúng ở Colombia, phân tích của họ chỉ đơn giản đo mức phân bổ không đúng trước và sau khi tự do hóa thương mại mà không kiểm soát đối với bất kỳ yếu tố khác.
Bằng việc áp dụng phương pháp của Hsieh and Klenow (2009) để đo lường phân bổ không đúng ở cho dữ liệu gồm 74.392 các doanh nghiệp sản xuất ở Columbia từ năm 1982 đến 1998, nghiên cứu làm rõ rằng các doanh nghiệp Columbia có sự phân tán TFPR lớn hơn ở Hoa Kỳ do đó mức phân bổ sai nguồn lực lớn hơn. Họ cũng tìm ra rằng, Colombia nên giảm doanh nghiệp cỡ trung và nên tập trung nhiều doanh nghiệp cỡ nhỏ và lớn để giảm phân bổ sai.