Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học "Phân bổ không đúng các nguồn lực, tái phân bổ và tăng trưởng năng suất tại các doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Khắc Minh, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2020 (Mã số chuyên ngành: 9310101).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển khởi xướng từ Solow (1957) và các nghiên cứu tiếp nối (Klenow và Rodriguez-Clare, 1997; Hall và Jones, 1999; Caselli, 2005), chênh lệch năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) ở cấp độ vĩ mô được coi là nguồn gốc cơ bản dẫn đến sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa các quốc gia. Tuy nhiên, hướng tiếp cận vi mô cận đại (Hsieh và Klenow, 2009) chỉ ra rằng TFP gộp của một nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào trình độ công nghệ nội tại của từng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào hiệu quả phân bổ các nguồn lực đầu vào (vốn và lao động) giữa các đơn vị sản xuất không đồng nhất. Năng suất tổng hợp bị suy giảm khi tồn tại hiện tượng phân bổ không đúng (phân bổ sai - misallocation) do các biến dạng chính sách hoặc thất bại thị trường.
Song song với mức độ phân bổ sai, quá trình tái phân bổ nguồn lực (vốn, lao động, thị phần) thông qua sự gia nhập của doanh nghiệp mới hiệu quả, sự rút lui của doanh nghiệp yếu kém và sự cơ cấu lại của nhóm doanh nghiệp sống sót (Olley và Pakes, 1996; Melitz và Polanec, 2015) đóng vai trò quyết định đến thay đổi năng suất gộp. Tại Việt Nam, ngành chế biến, chế tạo (chế tác) là khu vực kinh tế trọng yếu đóng lực đẩy cho GDP. Dù vậy, các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét tăng trưởng năng suất chung hoặc mô hình phân tích tĩnh, thiếu các bằng chứng thực nghiệm định lượng toàn diện về mức độ phân bổ sai, tiềm năng gia tăng TFP khi triệt tiêu biến dạng, cũng như chưa phân rã cơ chế tái phân bổ động theo cấp độ vi mô.
Mục tiêu nghiên cứu và hệ thống câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm nhằm xác định mức độ phân bổ sai nguồn lực tại các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam; tính toán mức gia tăng của TFP nếu loại bỏ hoàn toàn các biến dạng; lượng hóa sự đóng góp của quá trình tái phân bổ nguồn lực (qua các nhóm doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót) vào thay đổi TFP gộp; từ đó đề xuất các căn cứ khoa học và giải pháp chính sách giảm thiểu phân bổ sai, thúc đẩy tái phân bổ hiệu quả.
- Hệ thống câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- (i) Nguồn lực phân bổ sai ở mức độ nào trong các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam? Năng suất nhân tố tổng hợp có thể tăng lên bao nhiêu trong trường hợp không có phân bổ sai?
- (ii) Tác động của các nhân tố đến mức phân bổ sai nguồn lực như thế nào?
- (iii) Quá trình tái phân bổ nguồn lực thể hiện thông qua mức đóng góp của các doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót ngành chế biến, chế tạo vào TFP gộp ra sao?
- (iv) Sự hiện diện của việc phân bổ sai và các đặc điểm cấp độ ngành, cấp độ doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định gia nhập, rút lui của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đo lường mức độ phân bổ không đúng nguồn lực và quá trình tái phân bổ nguồn lực (thông qua động thái gia nhập, rút lui và sống sót của doanh nghiệp) tác động đến tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ các doanh nghiệp thuộc 22 phân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (mã ngành VSIC cấp 2) trên phạm vi 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam, bao gồm đầy đủ ba khu vực sở hữu: doanh nghiệp nhà nước (SOE), doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu và phân tích thực nghiệm từ năm 2000 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Hướng nghiên cứu về phân bổ sai nguồn lực:
- Restuccia và Rogerson (2008) xây dựng mô hình tăng trưởng với các cơ sở kinh doanh không đồng nhất, chứng minh các chính sách làm sai lệch giá tương đối của từng nhà sản xuất có thể làm giảm từ 30% đến 50% sản lượng và TFP.
- Hsieh và Klenow (2009) thiết lập khung phân tích định lượng đo lường biến dạng đầu ra và thị trường vốn. Kết quả chỉ ra nếu dịch chuyển về mức hiệu quả phân bổ của Hoa Kỳ, TFP của Trung Quốc sẽ tăng 39,3% và Ấn Độ tăng 46,9%. Nghiên cứu xác định sở hữu nhà nước là một thuộc tính cốt lõi tạo ra phân bổ sai tại Trung Quốc.
- Bond và các cộng sự (2013) phân tích tác động của thuế quan qua Dự luật Smoot-Hawley tại Mỹ, chỉ ra độ phân tán thuế suất tăng làm giảm 0,5% TFP.
- Eslava và các cộng sự (2013) nghiên cứu cải cách thương mại tại Colombia, khẳng định cắt giảm thuế quan thúc đẩy các cơ sở kém năng suất rút lui, cải thiện phân bổ nguồn lực.
- Chen và Irarrazabal (2014) khảo sát nền kinh tế Chile (1983–1996), chỉ ra việc loại bỏ phân bổ sai giúp TFP tăng 40%, trong đó trợ cấp đầu ra cho doanh nghiệp năng suất thấp là nguyên nhân chính gây méo mó.
- Epifani và Gancia (2011), Camacho và Conover (2010) phân tích tác động của tỷ suất lợi nhuận biên (mark-up), rào cản thương mại và tự do hóa thương mại đến mức phân tán năng suất doanh thu (TFPR).
- Caggese và Cunat (2013), Greenwood và các cộng sự (2013) phân tích các biến dạng trên thị trường tài chính; sự không hoàn hảo trong tiếp cận tín dụng có thể làm suy giảm TFP từ 12% đến 25%.
- Hướng nghiên cứu về tái phân bổ và động thái doanh nghiệp:
- Jovanovic (1982), Hopenhayn (1992) đặt nền móng lý thuyết về động thái công nghiệp, chi phí chìm và quyết định gia nhập/rút lui.
- Hopenhayn và Rogerson (1993) lượng hóa tác động tiêu cực của thuế đánh vào lao động làm giảm việc làm 2,5% và giảm năng suất 2%.
- Griliches và Regev (1995) khi phân tích ngành sản xuất Israel (1979–1988) lại kết luận phần lớn tăng trưởng năng suất đến từ cải thiện nội tại của doanh nghiệp thay vì gia nhập/rút lui.
- Aw và các cộng sự (2001) chứng minh tại Đài Loan (1981–1991), sự dịch chuyển nguồn lực từ doanh nghiệp rút lui sang doanh nghiệp gia nhập đóng góp hơn 50% vào cải thiện năng suất ngành.
- Foster, Haltiwanger và Syverson (2008/2005) phân biệt rõ ràng giữa năng suất hiện vật (TFPQ) và năng suất doanh thu (TFPR) trong điều kiện giá cả và sức mạnh thị trường biến động.
- Dogan và các cộng sự (2010) áp dụng phương pháp Foster, Haltiwanger và Krizan (1998) tại Malaysia (2000–2005), phân tích vai trò của dòng vốn FDI và quy mô doanh nghiệp tới hiệu ứng gia nhập.
- Hướng nghiên cứu về mô hình phân rã năng suất động:
- Baily, Hulten và Campbell (1992), Olley và Pakes (1996) tiên phong xây dựng phương pháp phân rã cấu trúc và hàm sản xuất động trong ngành viễn thông Mỹ.
- Melitz (2003) mở rộng khung phân tích thương mại nội ngành với các doanh nghiệp không đồng nhất.
- Melitz và Polanec (2015) phát triển phương pháp phân rã Olley-Pakes động (Dynamic Olley-Pakes Decomposition), khắc phục triệt để sai lệch đo lường (measurement bias - có thể lên tới 10%) của các phương pháp tĩnh khi đánh giá sự đóng góp của nhóm gia nhập và rút lui.
- Collard-Wexler và các cộng sự (2011), Hashiguchi (2015) mở rộng phân rã động cho các nền kinh tế đang phát triển và Trung Quốc.
Các nghiên cứu tại Việt Nam và khoảng trống học thuật
Tại Việt Nam, các công trình tiêu biểu gồm:
- Thang Bach (2019): Đánh giá giai đoạn 2000–2008, nhận định hơn 4/5 tăng trưởng TFP hàng năm đến từ hiệu quả phân bổ trong bối cảnh tự do hóa gia nhập của khu vực tư nhân, đồng thời chỉ ra biến dạng vốn qua tín dụng ưu đãi cho SOE.
- Fujin Zhou (2015): Xem xét biến dạng thị trường vốn, lao động, đất đai (2000–2009), chứng minh doanh nghiệp tư nhân chịu biến dạng vốn và đất đai cao hơn SOE; loại bỏ biến dạng quyền sở hữu giúp GDP tăng từ 0,6% đến 11,3% đối với vốn và 1,4% đối với đất đai.
- Doan Thi Thanh Ha và Kozo Kiyota (2015): Áp dụng khung Hsieh-Klenow (2000–2009), chỉ ra TFP gộp có thể tăng 30,7% nếu loại bỏ hoàn toàn phân bổ sai, đồng thời nhận thấy gia nhập WTO không mặc nhiên làm giảm phân bổ sai.
Năm khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống và toàn diện các nguyên nhân bên trong và bên ngoài gây ra phân bổ không đúng nguồn lực.
- Các nghiên cứu tái phân bổ tại Việt Nam trước đây phần lớn dừng lại ở mô hình tĩnh; luận án áp dụng mô hình phân rã động Melitz-Polanec (2015) để phân tách rành mạch vai trò của nhóm gia nhập, rút lui và sống sót.
- Các nghiên cứu định lượng trong nước chỉ tập trung vào mức độ gộp toàn ngành; luận án bóc tách chi tiết theo 22 ngành công nghiệp cấp 2, 6 vùng kinh tế, tỉnh thành, hình thức sở hữu, trình độ công nghệ và quy mô lao động.
- Chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào kiểm định tác động trực tiếp của mức độ phân bổ sai lên quyết định gia nhập, rút lui và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Thiếu hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ từ cấp độ vĩ mô, cơ quan quản lý địa phương đến cấp độ doanh nghiệp nhằm giảm thiểu phân bổ sai gắn liền với bối cảnh chuyển đổi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết phân bổ nguồn lực: Nguồn lực được phân bổ tối ưu khi tỷ lệ cận biên giữa các yếu tố đầu vào phản ánh đúng chi phí cơ hội thực tế, tối thiểu hóa chi phí sản xuất và cân bằng sản phẩm doanh thu cận biên của vốn ($MRPK$) và lao động ($MRPL$) giữa mọi doanh nghiệp trong cùng ngành.
- Nguyên nhân gây phân bổ sai:
- Biến dạng giá đầu vào và giá đầu ra: Do chính sách can thiệp, trợ cấp, ưu đãi thuế hoặc lãi suất phi thị trường (Hsieh và Klenow, 2009; Guner và cộng sự, 2008).
- Chi phí điều chỉnh: Chi phí điều chỉnh vốn và lao động bán cố định khiến doanh nghiệp không thể phản ứng tức thì với các cú sốc (Asker và cộng sự, 2014; Bartelsman và cộng sự, 2013).
- Rào cản thương mại và tỷ suất lợi nhuận biên (mark-up): Cạnh tranh không hoàn hảo và bảo hộ thương mại làm sai lệch hệ thống giá (Syverson, 2004a; Epifani và Gancia, 2011).
- Khiếm khuyết thị trường tín dụng: Ràng buộc thanh khoản và bất cân xứng thông tin ngăn cản doanh nghiệp năng suất cao mở rộng quy mô (Beck và Demirguc-Kunt, 2006).
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH TOÀN DIỆN CỦA LUẬN ÁN |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Đo lường phân bổ sai (Hsieh & Klenow, 2009) |
| - Phân tán TFPR, TFPQ |
| - Tiềm năng tăng TFP khi loại bỏ biến dạng (chuẩn hóa theo mức hiệu quả Mỹ) |
| |
| 2. Ước lượng TFP bán tham số (Levinsohn & Petrin, 2003) |
| - Khắc phục tính đồng thời bằng biến đầu vào trung gian |
| |
| 3. Phân rã năng suất động (Melitz & Polanec, 2015) |
| - Nhóm sống sót: Dịch chuyển năng suất trung bình + Phân bổ lại thị phần |
| - Nhóm gia nhập: Chênh lệch năng suất so với nhóm sống sót |
| - Nhóm rút lui: Độ trễ năng suất so với nhóm sống sót |
| |
| 4. Mô hình kinh tế lượng |
| - Mô hình mảng (FE/RE): Tác động của chính sách/thị trường lên SD(TFPR) |
| - Mô hình Heckman 2 bước: Phân bổ sai tác động lên Gia nhập/Rút lui & Lợi nhuận|
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình thực nghiệm
1. Đo lường phân bổ sai nguồn lực theo khung Hsieh và Klenow (2009)
Nền kinh tế giả định có cấu trúc cạnh tranh độc quyền. Doanh nghiệp $i$ trong ngành $s$ sản xuất sản phẩm phân biệt đối mặt với biến dạng đầu ra ($\tau_{Ysi}$) và biến dạng vốn ($\tau_{Ksi}$). Lợi nhuận của doanh nghiệp:
$$\pi_{si} = (1 - \tau_{Ysi}) P_{si} Y_{si} - w L_{si} - (1 + \tau_{Ksi}) R K_{si}$$
Trong đó $w$ là giá thuê lao động, $R$ là giá thuê vốn danh nghĩa (được gán cố định $R = 10%$, bao gồm tỷ lệ khấu hao 5% và lãi suất 5%), độ co giãn thay thế giữa các chủng loại hàng hóa $\sigma = 3$.
- Năng suất hiện vật (TFPQ): $A_{si} = \frac{Y_{si}}{K_{si}^{\alpha_s} L_{si}^{1 - \alpha_s}}$
- Năng suất doanh thu (TFPR): $TFPR_{si} = P_{si} A_{si} \propto \left( \frac{R(1+\tau_{Ksi})}{1-\tau_{Ysi}} \right)^{\alpha_s} \left( \frac{w}{1-\tau_{Ysi}} \right)^{1-\alpha_s}$
Khi không có biến dạng, $TFPR_{si}$ cân bằng giữa tất cả doanh nghiệp trong cùng ngành. Độ phân tán của $TFPR_{si}$ (đo bằng độ lệch chuẩn $\text{SD}(TFPR)$) đại diện cho mức độ phân bổ sai. Mức tăng TFP gộp khi loại bỏ phân bổ sai được tính bằng cách so sánh TFP thực tế với TFP hiệu quả theo chuẩn công nghệ Hoa Kỳ (lấy từ NBER-CES giai đoạn 2000–2011).
2. Ước lượng TFP theo phương pháp bán tham số Levinsohn và Petrin (2003)
Để khắc phục hiện tượng tương quan giữa cú sốc năng suất không quan sát được $\varpi_{it}$ và các quyết định đầu vào (vấn đề nội sinh/tính đồng thời), hàm sản xuất giá trị gia tăng được ước lượng:
$$va_{it} = \beta_l l_{it} + \beta_k k_{it} + \varpi_{it} + \varepsilon_{it}$$
Sử dụng hàm đầu vào trung gian $m_{it}$ (năng lượng và chi phí trung gian) làm đại diện nghịch đảo cho cú sốc năng suất $\varpi_{it} = \varpi_{it}(k_{it}, m_{it})$, quy trình ước lượng hai bước xác định hệ số co giãn lao động $\beta_l$ và vốn $\beta_k$, từ đó xác định:
$$TFP_{it} = \exp(va_{it} - \hat{\beta}k k{it} - \hat{\beta}l l{it})$$
3. Phương pháp phân rã Olley-Pakes động cải biên bởi Melitz và Polanec (2015)
Thay đổi năng suất gộp $\Delta \Phi = \Phi_2 - \Phi_1$ giữa hai thời kỳ được phân rã thành:
$$\Delta \Phi = \Delta \bar{\phi}S + \Delta cov_S + s{E2}(\Phi_{E2} - \Phi_{S2}) + s_{X1}(\Phi_{S1} - \Phi_{X1})$$
Bảng: Ý nghĩa các thành phần trong phân rã Melitz - Polanec (2015)
| Thành phần phân rã |
Ký hiệu toán học |
Ý nghĩa kinh tế |
| Nội bộ nhóm sống sót |
$\Delta \bar{\phi}S = \bar{\phi}{S2} - \bar{\phi}_{S1}$ |
Thay đổi trung bình không trọng số của năng suất các doanh nghiệp sống sót (học hỏi/cải tiến công nghệ nội tại). |
| Tái phân bổ thị phần nhóm sống sót |
$\Delta cov_S = cov_{S2} - cov_{S1}$ |
Thay đổi hiệp phương sai giữa thị phần ($s_{it}$) và năng suất ($\phi_{it}$) của nhóm sống sót (nguồn lực dịch chuyển sang công ty hiệu quả hơn). |
| Đóng góp của nhóm gia nhập |
$s_{E2}(\Phi_{E2} - \Phi_{S2})$ |
Tác động thuần từ doanh nghiệp mới gia nhập (dương khi năng suất trung bình $\Phi_{E2}$ cao hơn nhóm sống sót $\Phi_{S2}$ tại thời điểm $t=2$). |
| Đóng góp của nhóm rút lui |
$s_{X1}(\Phi_{S1} - \Phi_{X1})$ |
Tác động thuần từ việc đào thải doanh nghiệp yếu kém (dương khi năng suất trung bình $\Phi_{X1}$ thấp hơn nhóm sống sót $\Phi_{S1}$ tại thời điểm $t=1$). |
4. Mô hình hồi quy mảng đánh giá nhân tố tác động đến phân bổ sai
Sử dụng mô hình tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE) kiểm định qua Hausman test:
$$\text{SD}(TFPR){st} = \alpha_0 + \alpha_1 Tariff_rate_t + \alpha_2 Liquidity_ratio{st} + \alpha_3 vng_{st} + \alpha_4 \ln(Size){st} + \alpha_6 HHI{st} + \alpha_7 SOE_share_{st} + \alpha_8 Corrupt_t + \eta_s + \eta_s \cdot t + \varepsilon_{st}$$
- Biến phụ thuộc: $\text{SD}(TFPR)_{st}$ (độ lệch chuẩn TFPR của ngành $s$ năm $t$).
- Biến độc lập cấp vĩ mô/ngành: Thuế quan MFN trung bình ($Tariff_rate$), tỷ lệ thanh khoản tài sản ngắn hạn ($Liquidity_ratio$), rào cản tài chính vốn ngoài ($vng$), chỉ số tập trung thị trường Herfindahl–Hirschman ($HHI$), tỷ trọng giá trị gia tăng của doanh nghiệp nhà nước ($SOE_share$), chỉ số tham nhũng cấp tỉnh ($Corrupt$ trích từ PAPI).
- Biến cấp doanh nghiệp: Quy mô lao động ($\ln(Size)$).
5. Mô hình Heckman hai bước đánh giá tái phân bổ
Khắc phục chệch lựa chọn (selection bias) khi kiểm định tác động của mức độ phân bổ sai ngành, rào cản thương mại, khoảng cách công nghệ, chuyển giao công nghệ FDI (lan tỏa ngang, ngược, xuôi), cường độ vốn, vốn nhân lực và tuổi đời doanh nghiệp tới: (1) Xác suất gia nhập/rút lui của doanh nghiệp; và (2) Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (GSO) từ 2000 đến 2015. Giá trị gia tăng ($VA$) được xác định bằng phương pháp tiếp cận thu nhập nhân tố (tổng thu nhập người lao động và chi phí thuê vốn). Vốn cố định và tiền lương được giảm phát theo chỉ số giá phù hợp.
- Cơ sở dữ liệu NBER-CES (Hoa Kỳ) giai đoạn 2000–2011 để tính toán độ co giãn sản lượng theo lao động và vốn, kết nối bảng mã NAICS 1997 sang VSIC 2 chữ số của Việt Nam.
- Dữ liệu thuế quan MFN từ Ngân hàng Thế giới (World Bank).
- Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) từ năm 2011.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG NGUỒN LỰC, TÁI PHÂN BỔ VÀ TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu học thuật quốc tế và trong nước thành ba trụ cột: phân bổ sai nguồn lực, tái phân bổ và mô hình năng suất động. Luận án phân tích sâu các đóng góp lý thuyết của Hsieh và Klenow (2009), Melitz và Polanec (2015), đồng thời tổng kết các phát hiện tại các nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ, Colombia, Chile, Slovenia, Malaysia). Điểm lại các nghiên cứu tại Việt Nam (Thang Bach, Fujin Zhou, Doan và Kiyota), chương 1 đúc kết 5 khoảng trống tri thức lớn mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết, từ đó xác lập tính hợp lý và tính mới của đề tài.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về phân bổ không đúng và tái phân bổ nguồn lực:
- Định nghĩa chuẩn xác trạng thái phân bổ tối ưu theo nguyên lý cân bằng năng suất cận biên doanh thu và chi phí tương đối của các yếu tố sản xuất.
- Phân tích 4 nhóm nguyên nhân kinh tế vi mô và thể chế dẫn tới phân bổ sai: biến dạng giá đầu vào/đầu ra, chi phí điều chỉnh, rào cản thương mại kèm sức mạnh thị trường độc quyền (mark-up), và khiếm khuyết thị trường tín dụng.
- Thiết lập cơ sở toán học cho phương pháp đo lường TFP bán tham số (Levinsohn - Petrin) và phương pháp phân rã Olley-Pakes động mở rộng (Melitz - Polanec).
- Xây dựng khung phân tích các nhân tố đặc trưng của doanh nghiệp (sở hữu, FDI, quy mô, tuổi, vốn nhân lực, R&D) và môi trường ngành ảnh hưởng đến quyết định rút lui/gia nhập của doanh nghiệp.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày quy trình 7 bước xử lý dữ liệu và ước lượng kinh tế lượng:
- Bước 1 - Bước 2: Làm sạch và ghép nối dữ liệu mảng vi mô GSO (2000–2015), loại bỏ quan sát bất hợp lý (lao động $\le 0$, vốn $\le 0$, hoạt động ngắt quãng).
- Bước 3: Ước lượng TFP theo hàm sản xuất bán tham số Levinsohn-Petrin giải quyết tính nội sinh.
- Bước 4: Ghép nối hệ số co giãn sản lượng chuẩn từ NBER-CES (Mỹ) qua bảng chuyển đổi NAICS - VSIC để đo lường mức độ phân bổ sai và phần tăng TFP tiềm năng.
- Bước 5: Kết nối dữ liệu thuế quan MFN (WB) và chỉ số PAPI; xây dựng mô hình hồi quy mảng (FE/RE).
- Bước 6: Phân loại ba nhóm doanh nghiệp (sống sót suốt 2000–2015, gia nhập sau 2000 và tồn tại đến 2015, rút lui trước 2015) và thực hiện phân rã động Melitz - Polanec.
- Bước 7: Thiết lập mô hình lựa chọn Heckman 2 bước đánh giá ảnh hưởng của phân bổ sai và các đặc tính doanh nghiệp/ngành lên động thái tái phân bổ.
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG MỨC PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG VÀ TÁI PHÂN BỔ NGUỒN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO
Chương 4 cung cấp toàn bộ kết quả tính toán thực nghiệm giai đoạn 2000–2015:
- Mức độ phân bổ sai và tiềm năng tăng TFP: Độ phân tán TFPR và TFPQ tại Việt Nam ở mức cao, phản ánh sự tồn tại của các biến dạng nghiêm trọng trên thị trường vốn và thị trường đầu ra. Nếu phân bổ nguồn lực đạt mức hiệu quả như Hoa Kỳ, TFP của ngành chế biến, chế tạo Việt Nam có thể gia tăng đáng kể (tương đương kịch bản cải thiện 30% - 50% được quan sát ở các nước đang phát triển).
- Phân bố theo chiều không gian và phân ngành: Mức độ phân bổ sai có sự dị biệt lớn giữa 6 vùng kinh tế và giữa các tỉnh/thành phố (thể hiện qua bản đồ phân tán TFPR). Phân bổ sai diễn ra nghiêm trọng hơn ở các ngành công nghệ thấp so với nhóm công nghệ trung bình và công nghệ cao.
- Phân bố theo sở hữu và quy mô: Khu vực doanh nghiệp nhà nước (SOE) có mức độ biến dạng và phân bổ sai cao nhất, trong khi khu vực FDI và tư nhân có mức phân bổ hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SME) chịu nhiều bất lợi và biến dạng tiếp cận nguồn lực hơn doanh nghiệp quy mô lớn.
- Kết quả phân rã năng suất động: Thay đổi TFP gộp được dẫn dắt chủ yếu bởi nhóm doanh nghiệp sống sót (qua thành phần dịch chuyển năng suất nội tại và tái phân bổ thị phần), trong khi sự đóng góp của nhóm gia nhập mới và rút lui phản ánh rõ nét quá trình đào thải thị trường.
- Kết quả hồi quy mô hình FE/RE và Heckman: Tự do hóa thương mại (giảm thuế MFN) và kiểm soát tham nhũng (PAPI) có tác động giảm phân bổ sai có ý nghĩa thống kê; rào cản tài chính và tỷ trọng sở hữu nhà nước cao làm gia tăng phân bổ sai. Mức độ phân bổ sai trong ngành cản trở sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng và làm méo mó cấu trúc lợi nhuận.
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM PHÂN BỔ SAI VÀ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TÁI PHÂN BỔ NGUỒN LỰC HƯỚNG TỚI GIA TĂNG NĂNG SUẤT TỔNG HỢP
Dựa trên các phát hiện định lượng, chương 5 luận giải bối cảnh phát triển công nghiệp và đưa ra hệ thống khuyến nghị:
- Giải pháp cấp Chính phủ/Nhà nước: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, xóa bỏ ưu đãi bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đẩy mạnh tái cơ cấu và cổ phần hóa SOE thực chất, minh bạch hóa chính sách tín dụng và đất đai.
- Giải pháp cấp cơ quan quản lý và địa phương: Nâng cao năng lực quản trị công (cải thiện PAPI), giảm chi phí tuân thủ hành chính, quy hoạch phát triển cụm ngành công nghiệp phù hợp lợi thế vùng nhằm giảm biến dạng cục bộ.
- Giải pháp cấp doanh nghiệp: Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng vốn nhân lực, tối ưu hóa cấu trúc vốn và nâng cao năng lực quản trị để thích ứng với áp lực cạnh tranh khi tái phân bổ diễn ra.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và phương pháp luận
- Về khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống hóa và kết hợp thành công hai phương pháp hiện đại: khung đo lường phân bổ sai vi mô của Hsieh và Klenow (2009) cùng phương pháp phân rã năng suất động của Melitz và Polanec (2015) trên bộ dữ liệu mảng dài hạn (16 năm) của toàn bộ ngành chế tạo Việt Nam.
- Khắc phục sai lệch đo lường: Việc ứng dụng mô hình Levinsohn-Petrin (2003) và Melitz-Polanec (2015) giúp xử lý triệt để tính nội sinh trong ước lượng hàm sản xuất và loại trừ sai lệch đo lường thường gặp ở các mô hình phân rã tĩnh truyền thống.
- Mở rộng biên độ phân tích: Cung cấp bức tranh chi tiết, đa chiều về mức độ phân tán TFPR/TFPQ theo 22 phân ngành kinh tế cấp 2, 6 vùng địa lý, tỉnh thành, loại hình sở hữu, trình độ công nghệ và quy mô doanh nghiệp.
- Kiểm định mối quan hệ tương tác: Lần đầu tiên kiểm định thực nghiệm tác động của mức độ phân bổ sai nguồn lực lên xác suất gia nhập/rút lui và lợi nhuận doanh nghiệp thông qua mô hình lựa chọn Heckman.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách
- Cung cấp bằng chứng định lượng khẳng định phân bổ sai nguồn lực là rào cản lớn kìm hãm TFP ngành chế tạo Việt Nam; việc tái phân bổ nguồn lực từ khu vực kém hiệu quả (nhất là một bộ phận SOE) sang khu vực hiệu quả (tư nhân, FDI) mang lại tiềm năng tăng trưởng năng suất đáng kể.
- Chỉ rõ vai trò then chốt của việc cắt giảm thuế quan thực chất, minh bạch hóa thị trường tài chính và nâng cao hiệu quả quản trị công (PAPI) trong việc kéo giảm độ phân tán TFPR.
- Xây dựng hệ thống giải pháp phân tầng cụ thể, khả thi cho ba nhóm đối tượng (Chính phủ, chính quyền địa phương và doanh nghiệp chế tạo).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Về mặt dữ liệu: Do số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê không có sẵn chỉ tiêu chi phí trung gian chi tiết và chi phí sản xuất cụ thể từng mặt hàng, giá trị gia tăng phải ước tính gián tiếp qua phương pháp thu nhập nhân tố (lao động và vốn). Giá xuất xưởng riêng lẻ của từng sản phẩm không quan sát được trực tiếp, đòi hỏi phải dựa vào các chỉ số giảm phát cấp ngành.
- Về mặt giả định tham số: Việc áp dụng tham số chuẩn hóa ($\sigma = 3$, lãi suất thuê vốn $R = 10%$) và sử dụng hệ số co giãn sản lượng của Hoa Kỳ (NBER-CES) làm chuẩn mực hiệu quả phản ánh giả định công nghệ tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế, dù đã được kiểm tra tính vững nhưng vẫn có thể chịu độ trễ so với đặc thù công nghệ thực tế tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng chuỗi số liệu sau năm 2015; đi sâu phân tích cơ chế lan tỏa công nghệ chi tiết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa theo chuỗi cung ứng; kiểm định sâu hơn tác động của các chính sách trợ cấp phi thuế quan và rào cản thể chế đất đai đối với phân bổ sai nguồn lực.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học giả kinh tế học: Tham khảo quy trình kết hợp phương pháp bán tham số Levinsohn-Petrin, khung phân tích Hsieh-Klenow và kỹ thuật phân rã Melitz-Polanec trên dữ liệu mảng vi mô quy mô lớn.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu trong các học phần Kinh tế học vi mô nâng cao, Kinh tế học phát triển, Kinh tế học công nghiệp và Kinh tế lượng ứng dụng.
- Các nhà hoạch định chính sách (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Ban Kinh tế Trung ương, cơ quan quản lý cấp tỉnh): Khai thác các phát hiện thực nghiệm về phân bổ sai theo ngành, vùng và hình thức sở hữu để thiết kế chính sách tái cơ cấu kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân bổ sai nguồn lực (misallocation) trong luận án được hiểu và đo lường như thế nào?
Phân bổ sai nguồn lực là hiện tượng các yếu tố sản xuất đầu vào (vốn và lao động) không được phân bổ đến các doanh nghiệp có năng suất cao nhất do tồn tại các biến dạng chính sách hoặc thất bại thị trường. Trong luận án, phân bổ sai được đo lường thông qua độ phân tán (độ lệch chuẩn) của năng suất doanh thu ($\text{SD}(TFPR)$) giữa các doanh nghiệp trong cùng phân ngành theo khung lý thuyết Hsieh và Klenow (2009).
2. Vì sao luận án lựa chọn phương pháp bán tham số Levinsohn - Petrin (2003) thay vì OLS truyền thống để ước lượng TFP?
Phương pháp OLS truyền thống gặp hiện tượng chệch đồng thời (nội sinh) do cú sốc năng suất không quan sát được $\varpi_{it}$ có tương quan với quyết định lựa chọn mức độ đầu vào (lao động, vốn) của doanh nghiệp. Phương pháp Levinsohn-Petrin sử dụng các biến đầu vào trung gian (năng lượng, nguyên vật liệu) làm biến đại diện nghịch đảo để kiểm soát các cú sốc năng suất này, khắc phục hạn chế của phương pháp Olley-Pakes (vốn dựa vào biến đầu tư - vốn thường có giá trị bằng 0 ở nhiều doanh nghiệp).
3. Phương pháp phân rã Melitz và Polanec (2015) có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình phân rã tĩnh?
Các phương pháp phân rã tĩnh không phân biệt chính xác được thời điểm và mức năng suất chuẩn của các nhóm doanh nghiệp, dẫn tới sai lệch đo lường (measurement bias) lên tới 10% trong các khoảng thời gian dài. Phân rã Melitz-Polanec động lồng ghép cấu trúc doanh nghiệp không đồng nhất, phân tách rành mạch thay đổi năng suất gộp thành 4 thành phần: tiến bộ năng suất trung bình của nhóm sống sót, tái phân bổ thị phần nhóm sống sót, đóng góp thuần của nhóm gia nhập mới và đóng góp đào thải của nhóm rút lui.
4. Dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ những nguồn nào và giai đoạn nào?
Luận án sử dụng dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp từ Điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2000–2015; hệ số co giãn sản lượng của Hoa Kỳ từ Cục Quốc gia về Nghiên cứu Kinh tế Mỹ (NBER-CES) giai đoạn 2000–2011; số liệu thuế quan MFN từ Ngân hàng Thế giới (World Bank); và chỉ số PAPI của Việt Nam từ năm 2011.
Kết luận
Luận án của NCS. Nguyễn Thị Phương đã luận giải một cách toàn diện và khoa học vấn đề phân bổ không đúng nguồn lực và tái phân bổ trong mối quan hệ với tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp tại các doanh nghiệp ngành chế tạo Việt Nam giai đoạn 2000–2015. Bằng việc kết hợp các khung phân tích kinh tế lượng vi mô và phân rã năng suất động hiện đại trên bộ dữ liệu quy mô lớn, tác giả đã định lượng rõ mức độ biến dạng, tiềm năng tăng TFP khi triệt tiêu phân bổ sai và cơ chế đóng góp của các nhóm doanh nghiệp sống sót, gia nhập và rút lui. Các kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống căn cứ thực nghiệm tin cậy phục vụ công tác hoạch định chính sách công nghiệp, cải cách thể chế và tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam.