Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan FDI 1. Khái niệm FDI FDI (Foreign Direct Invesment) - Đầu Tƣ Trực Tiếp Nƣớc Ngoài là hoạt động lƣu chuyển vốn mạnh mẽ trên thế giới với hàng trăm triệu mỗi năm. Hiện nay, FDI có rất nhiều định nghĩa khác nhau trên thế giới, tuỳ thuộc vào mục đích, góc độ nghiên cứu, khái niệm về “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài” đƣợc khái quát dƣới những cách tiếp cận của mỗi ngƣời.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: “FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, Múc đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự của doanh nghiệp”. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD: Năm 1999, OECD đã đƣa ra khái niệm về FDI: “ Đầu tƣ trực tiếp là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp bằng cách: - Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ - Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có - Tham gia vào một doanh nghiệp mới - Cấp tín dụng dài hạn (>5năm) - Quyền kiểm soát: nắm giữ từ 10% cổ phần hoặc biểu quyết trở lên”. Hai khái niệm về FDI của IMF và OECD có ý nghĩa gần giống nhau, đều chỉ việc thiết lập các mối quan hệ lâu dài và tạo ảnh hƣởng đối với việc 5 Luan van quản lý doanh nghiệp. Khái niệm của OECD có điểm khác biệt khi chỉ ra cụ thể hơn các hình thức để nhà đầu tƣ tạo ảnh hƣởng đối với hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới WTO: “ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Theo WTO, FDI đƣợc hiểu là quyền quản lý tài sản trên lãnh thổ nƣớc khác. Theo Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hoạt động đầu tƣ do các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh tế của nƣớc sở tại bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản vào một đối tƣợng nhất định, dƣới một hình thức đầu tƣ cụ thể. Họ tƣ mình hoặc cùng chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhƣ kết quả kinh doanh căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn”.
Tóm lại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm FDI nhƣng ta có hiểu đơn giản đây là dịch chuyển dòng tiền/tài sản từ nơi này sang nơi khác không cùng vùng lãnh thổ để quản lý một doanh nghiệp với trách nhiệm tƣơng ứng lƣợng tiền/tài sản đầu tƣ vào. Các hình thức FDI Theo Điều 21 Luật Đầu tƣ 2005 của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc đầu tƣ dƣới những hình thức sau: 1. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Đây là loại hình thức doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Doanh nghiệp nƣớc ngoài đứng ra thành lập và tự chịu toàn bộ trách nhiệm quản lý và hoạt động đầu tƣ, kinh doanh của mình.
Ở Việt Nam, các nhà đầu tƣ có thể thành lập doanh nghiệp dƣới hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty Cổ phần. Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài là doanh nghiệp đƣợc thành lập tại nƣớc sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh đƣợc ký giữa Bên hoặc các Bên nƣớc chủ nhà với Bên hoặc các Bên nƣớc ngoài đầu tƣ kinh doanh tịa nƣớc sở tại. Pháp nhân mới đƣợc thành lập theo hình thức công ty TNHH trong đó phần vốn góp của nƣớc ngoài không hạn chế mức tối đa, nhƣng mức tối thiểu theo quy định của luật không dƣới 30% vốn pháp định. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Coopertion Contract - BCC) Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa các nhà đầu tƣ nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh theo nghĩa vụ trong hợp đồng mà không cần thành lập pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể đƣợc kết thúc trƣớc thời hạn nếu thoả mãn đủ các điều kiện quy định trong hợp đồng, hợp đồng cũng có thể đƣợc kéo dài khi có sự đồng ý của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ. Đối tác công - tư (Public Private Partnership - PPP) PPP là việc Nhà nƣớc và Nhà đầu tƣ cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án. Với mô hình PPP, Nhà nƣớc sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tƣ nhân đƣợc khuyến khích cung cấo bằng cơ chế thanh toán theo chất lƣợng dịch vụ.
Các mô hình PPP: - Mô hình nhu ợng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó co sở hạ tầng đu ợc nhà nu ớc xây dựng và sở hữu nhu ng giao (thu ờng là thông qua đấu giá) cho tu nhân vạ n hành và khai thác. - Mô hình thiết kế - xây dựng - tài trợ - vạ n hành DBFO (Design- 7 Luan van Build - Finance - Operate), khu vực tu nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vạ n hành công trình nhu ng nó vẫn thuọ c sở hữu nhà nu ớc. - Mô hình xây dựng - vạ n hành - chuyển giao BOT (Build - Operate - Transfer) là hình thức do công ty thực hi n dự án sẽ đứng ra xây dựng và vạ n hành công trình trong mọ t thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bọ cho nhà nu ớc. - Mô hình BTO (xây dựng - chuyển giao - vạ n hành) là mô hình sau khi xây dựng xong thì chuyển giao ngay cho nhà nu ớc sở hữu nhu ng công ty thực hi n dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình - Mô hình xây dựng - sở hữu - vạ n hành BOO (Build - Own - Operate) là hình thức công ty thực hi n dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vạ n hành công trình.
Hiện nay, hình thức FDI chủ yếu là doanh nghiệp liên doanh do đƣợc các chủ đầu tƣ ƣu chuộng vì dễ dàng thâm nhập thị trƣờng hiệu quả, tận dụng đƣợc các mối quan hệ tại nƣớc tiếp nhận. Phân loại FDI 1. Theo hình thức xâm nhập Hình thức FDI này đƣợc chia làm 2 loại: - Đầu tƣ mới (Greenfield Investment): là hình thức chủ đầu tƣ sẽ đầu tƣ mới hoàn toàn từ xây dựng cơ sở vật chất, kinh doanh tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Thƣờng các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thích hình thức này vì tạo thêm việc làm, tăng thêm vốn và gia tăng giá trị cho nƣớc tiếp nhận.
- Mua bán và sát nhập (Cross-border Merger & Acquisition): là loại hình các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài mua lại hoặc sát nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh có sẵn ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Hình thức này đƣợc nhiều nhà đầu tƣ ƣa chuộng vì chi phí thấp, xâm nhập thị trƣờng nhanh. Theo mục tiêu đầu tư của chủ đầu tư FDI theo mục tiêu đầu tƣ đƣợc chia làm 4 loại: - FDI tìm kiếm nguồn lực (Resource-seeking): Các nhà đầu tƣ nhằm đạt đƣợc các lợi ích khác nhau nhƣ dây chuyền sản xuất, nguồn lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên. Các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thƣờng là các nƣớc đang phát triển và có nguồn cung dồi dào và rẻ nhƣ Đông Nam Á, Châu Phi.
- FDI tìm kiếm thị trƣờng (Market-seeking): Hình thức này giúp nhà đầu tƣ duy trì thị trƣờng hiện có hoặc đầu tƣ vào thị trƣờng mới. - FDI tìm kiếm hiệu quả (Effficiency-seeking): Nhà đầu tƣ mong muốn tăng hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi hoặc cả hai. - FDI tìm kiếm tài sản chiến lƣợc (Strategic-Asset-seeking): Để ngăn chặn đối thủ cạnh tranh có đƣợc lợi thế từ các nguồn lực tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Các nhà đầu tƣ thƣờng xem xét và chủ động chiếm lấy nguồn lực đấy.
Theo định hướng của nước tiếp nhận đầu tư Nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thƣờng theo 3 kiểu định hƣớng sau: - FDI thay thế nhập khẩu: chủ yếu ở các nƣớc kém và đang phát triển. Nguyên nhân do dung lƣợng thị trƣờng nội địa, nguồn nguyên liệu và nhân công có sẵn, chịu các rào cản thƣơng mại về xuất nhập khẩu, chƣa đáp ứng các chi phí vận tải, bảo hiểm, tuy nhiên công nghệ, kỹ thuật còn lạc hậu nên cần hợp tác với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để khai thác thị trƣờng trong nƣớc. - FDI định hƣớng xuất khẩu: ngƣợc lại với nhập khẩu, hình thức xuất khẩu nhằm cân bằng cán cân thƣơng mại, không bị hạn chế về xuất khẩu và cơ lợi thế ƣu đãi trong sản xuất. - FDI theo các định hƣớng của Chính phủ: giúp phát triển các ngành còn yếu kém trong nƣớc tiếp nhân đầu tƣ, các ngành kinh tế khó khăn và cải thiện cán cân thanh toán.
Theo quan hệ của chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Các chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư hợp tác theo 3 kiểu như sau: - FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): các nƣớc đi đầu tƣ nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, nguồn lao động, đất đai giá rẻ của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. - FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): hầu hết các nhà đầu tƣ sẽ đầu tƣ vào các nƣớc có cùng loại sản phẩm hoặc sản xuất tƣơng tự ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ mà họ có lợi thế cạnh tranh. - FDI hỗn hợp (Mixed FDI): là sự kết hợp giữa chiều ngang và chiều dọc, chủ đầu tƣ và nƣớc tiếp nhận đầu tƣ hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Ý nghĩa của FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư FDI có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế, xã hội, nhất là với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Thứ nhất, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đối với các nƣớc đang phát triển, xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trƣởng.