LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Từ những năm 50 của thế kỷ XX, không gian kinh tế vùng và liên kết vùng đã khá phát triển, được coi trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều nước châu Mỹ, châu Âu và châu Á. Hiện nay, chính sách phát triển kinh tế vùng, liên kết kinh tế (LKKT) vùng được phát triển mạnh mẽ trên nhiều cấp độ: nội vùng, giữa các vùng trong một nước, giữa các vùng của các nước nhau. Chủ thể tham gia LKKT vùng cũng rất đa dạng: giữa chính quyền của các vùng để tạo ra khung khổ thể chế chính sách chung; giữa nông dân với nhau nhằm tạo ra các tổ chức kinh tế hợp tác liên vùng; giữa các doanh nghiệp để tạo ra sự kết nối các chuỗi giá trị vùng, khu vực và toàn cầu… Liên kết mang lại cho các chủ thể những cơ hội phát huy lợi thế, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó tạo ra sự phát triển bền vững, ngược lại sự thiếu liên kết có thể gây ra không ít khó khăn trong quá trình phát triển.
Ở Việt Nam, vấn đề LKKT vùng, đặc biệt là LKKT vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) cũng đã được quan tâm trong những năm gần đây. Rất nhiều các diễn đàn, các hội thảo đã được tổ chức như Hội thảo về Liên kết phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên, liên kết vùng trong quá trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam, Diễn đàn kinh tế miền Trung hàng năm… và có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp để tăng cường LKKT trong các vùng. Riêng với các vùng KTTĐ, “Quy chế tổ chức hoạt động và phối hợp của Tổ chức điều phối phát triển các vùng KTTĐ” đã được Chính phủ ban hành lần đầu từ năm 2004 và được điều chỉnh nhiều lần. Tuy nhiên thực tế, LKKT ở các vùng nói chung và các vùng KTTĐ nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, dẫn tới sự phát triển của các vùng chưa tương xứng với tiềm năng.
Đối với vùng KTTĐ miền Trung, là một trong ba vùng KTTĐ được hình thành đầu tiên của cả nước, có nhiều tiềm năng để phát triển và được xác định là hạt nhân tăng trưởng và là vùng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội không chỉ cho miền Trung mà còn lan toả tới vùng Tây Nguyên, song do sự hạn chế trong LKKT nhất là LKKT nội vùng đã dẫn tới sau 20 năm hình thành và phát triển, vùng KTTĐ miền Trung vẫn đang là vùng “trũng” về phát triển kinh tế, số liệu thống kê cho thấy: (i) hiệu quả kinh tế của vùng thấp (mật độ kinh tế của vùng năm 2016 là 10,46 tỷ đồng/km2 so với 13,59 tỷ đồng/km2 của cả nước, tỷ lệ VA/GO của vùng chưa đến 30%) do việc các tỉnh thành đều có những ưu thế như nhau lại không liên kết với nhau dẫn tới các hoạt động kinh tế trên vùng không tận dụng được lợi thế so sánh làm cho 2 hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp; (ii) việc chạy đua thu hút đầu tư tưởng như sẽ tăng sự hấp dẫn của vùng nhưng thực tế lại làm cho thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn (năm 2016 vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào vùng chỉ chiếm khoảng 6,12% so với tổng FDI vào các vùng KTTĐ); (iii) sự thiếu liên kết giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh làm cho các ngành thiếu năng lực cạnh tranh, chưa hấp dẫn được các nhà đầu tư (chỉ có ngành du lịch, kho bãi và xây dựng là có thương số vùng lớn hơn 1)… Chính vì vậy, đến nay vùng KTTĐ miền Trung vẫn chưa đảm bảo được các yêu cầu của một vùng KTTĐ: tổng sản phẩm của vùng mới chỉ đóng góp khoảng 6,51% tổng GDP của cả nước, thấp nhất trong 4 vùng KTTĐ (vùng KTTĐ Bắc Bộ đóng góp khoảng 18,9%, vùng KTTĐ phía Nam khoảng 43%, vùng KTTĐ vùng đồng bằng sông Sửu Long (ĐBSCL) khoảng 7%). Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người vùng KTTĐ miền Trung cũng chỉ đạt 45,48 triệu đồng/người, trong khi đó vùng KTTĐ Bắc Bộ đạt 67,06 triệu đồng/người, vùng KTTĐ phía Nam đạt 99,1 triệu đồng/người. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn chủ đề “Nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” là đề tài luận án tiến sỹ với nội dung: hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến LKKT vùng KTTĐ và xây dựng khung nghiên cứu của luận án; đánh giá một cách đầy đủ, chính xác những điểm đạt được, những vấn đề còn hạn chế trong LKKT vùng KTTĐ miền Trung; tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong LKKT của vùng trong thời gian qua; trên cơ sở đó đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng cũng như giải pháp cần thực hiện để tăng cường LKKT trong vùng KTTĐ miền Trung. Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản của LKKT vùng KTTĐ, luận án vận dụng vào nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ miền Trung từ đó tìm ra những giải pháp để tăng cường LKKT trong vùng.
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án là: 1. Xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ gồm: nội hàm của LKKT vùng, các yêu cầu đặt ra đối với LKKT vùng KTTĐ, các tiêu chí đánh giá LKKT vùng KTTĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến LKKT vùng KTTĐ. Chỉ ra được những kết quả đạt được và những hạn chế trong LKKT vùng KTTĐ miền Trung thời gian qua và những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế đó. Đưa ra được quan điểm, định hướng tăng cường LKKT vùng KTTĐ miền Trung và các giải pháp cần được thực hiện để tăng cường LKKT trong vùng KTTĐ miền Trung thời gian tới.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu LKKT trong vùng KTTĐ miền Trung 3. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Luận án nghiên cứu vùng KTTĐ miền Trung theo quyết định số 148/2004/QĐ- TTg và 1874/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, gồm 5 địa phương là Thừa Thiên Huế (TT Huế), Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. LKKT vùng không chỉ diễn ra trong phạm vi một vùng (LKKT nội vùng) mà có thể vượt ra khỏi ranh giới vùng tạo nên sự gắn kết giữa vùng với bên ngoài (LKKT liên vùng).
Tuy nhiên, theo quan điểm của NCS, LKKT nội vùng là nền tảng, khi LKKT nội vùng được đẩy mạnh sẽ tạo điều kiện cho LKKT liên vùng, đặc biệt thực tế LKKT nội vùng KTTĐ miền Trung vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy, trong luận án này, NCS xác định phạm vi nghiên cứu LKKT trong nội vùng KTTĐ miền Trung, LKKT liên vùng sẽ là những nghiên cứu tiếp theo. Về thời gian: Phần thực trạng luận án nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ miền Trung tập trung vào giai đoạn từ năm 2010 đến nay và đề xuất định hướng giải pháp đến năm 2030. Về nội dung: LKKT có nhiều nội dung như liên kết phát triển cơ sở hạ tầng, liên kết thu hút đầu tư, liên kết trong hoạt động kinh tế… trong đó có thể thấy liên kết trong hoạt động kinh tế của các chủ thể sản xuất kinh doanh đóng vai trò cốt lõi của LKKT vùng, là nội dung đảm bảo cho LKKT vùng chặt chẽ và bền vững. Vì vậy, luận án đi sâu nghiên cứu LKKT vùng từ góc độ là liên kết các hoạt động kinh tế của các chủ thể sản xuất kinh doanh (các doanh nghiệp, các cá nhân) trên địa bàn vùng, xuất phát từ các nhu cầu phát sinh trong quá trình hoạt động.
Các nội dung liên kết từ phía nhà nước được nghiên cứu dưới góc độ là các yếu tố ảnh hưởng. Luận án sử dụng liên kết trong các ngành du lịch, khai thác thuỷ sản và công nghiệp chế tạo làm điển hình nghiên cứu vì đặc điểm sản xuất của ba lĩnh vực này thể hiện rõ tổ chức liên kết, đồng thời đây cũng là các lĩnh vực chi phối mạnh đến phát triển kinh tế của vùng. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Giả thuyết của đề tài luận án Nếu LKKT vùng được tăng cường sẽ giúp tăng năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của các chủ thể cũng như của toàn vùng từ đó thúc đẩy sự phát triển của vùng và ngược lại.2 Phương pháp tiếp cận Luận án tiếp cận nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn. Dựa trên tổng quan các nghiên cứu về lý luận và nghiên cứu thực tiễn thực hiện LKKT vùng ở một số quốc gia, luận án sẽ xây dựng khung nghiên cứu về LKKT vùng trong vùng KTTĐ.
Luận án kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng để phân tích và đánh giá thực trạng LKKT vùng KTTĐ miền Trung. Trong đó, nghiên cứu định tính được sử dụng trong các nội dung: phân tích thực hiện các nội dung LKKT vùng trong ba trường hợp điển hình gồm: cụm liên kết ngành (CLKN) ngành du lịch (trường hợp cụm du lịch 3 địa phương TT Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam), chuỗi giá trị thuỷ sản khai thác và CLKN chế tạo (THACO Chu Lai) và trong phân tích thực hiện các yêu cầu LKKT vùng KTTĐ. Nghiên cứu định lượng được sử dụng trong tính toán chỉ số tổng hợp đo lường mức độ LKKT vùng bằng chỉ số Moran (I) (cụ thể được trình bày ở chương 2 của luận án).3 Quy trình nghiên cứu Dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu LKKT vùng nêu trên trên, để đạt được các mục tiêu đề ra quy trình nghiên cứu của luận án được tiến hành như sau: Luận án tổng quan các nghiên cứu trước nhằm hình thành khung lý thuyết về LKKT vùng KTTĐ. Dựa trên khung lý thuyết này, luận án sẽ phân tích thực trạng LKKT ở vùng KTTĐ miền Trung.
Trên cơ sở các phân tích thực trạng, luận án rút ra các kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong LKKT vùng KTTĐ miền Trung và các nguyên nhân của các hạn chế. Từ đó luận án sẽ đề xuất các quan điểm, định hướng và các giải pháp nhằm tăng cường LKKT vùng KTTĐ miền Trung. Quy trình nghiên cứu này có thể được mô tả qua hình sau: 5 Dữ liệu thứ cấp Tổng quan nghiên cứu Khung nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ Dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thứ cấp Phân tích thực trạng LKKT vùng KTTĐ miền Trung Kết quả đạt được, những hạn chế trong LKKT vùng KTTĐ miền Trung và các nguyên nhân của hạn chế Đề xuất các quan điểm, định hướng và các giải pháp tăng cường LKKT vùng KTTĐ miền Trung Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu Nguồn: NCS 4.