Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phí Thị Hồng Linh, chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 62310105) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Ngô Thắng Lợi vào năm 2018.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung được thành lập theo Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg và Quyết định số 1874/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 5 tỉnh và thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đây là một trong ba vùng KTTĐ được hình thành đầu tiên của Việt Nam, được kỳ vọng giữ vai trò hạt nhân tăng trưởng và là vùng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực miền Trung và lan tỏa sang Tây Nguyên.
Tuy nhiên, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, vùng KTTĐ miền Trung vẫn rơi vào tình trạng "vùng trũng" về phát triển kinh tế do sự hạn chế trong liên kết kinh tế (LKKT), đặc biệt là liên kết nội vùng:
- Hiệu quả kinh tế của vùng ở mức thấp: Mật độ kinh tế của vùng năm 2016 chỉ đạt 10,46 tỷ đồng/km², thấp hơn mức bình quân 13,59 tỷ đồng/km² của cả nước; tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO) của vùng chưa đạt 30%.
- Cạnh tranh và chạy đua thu hút đầu tư giữa các địa phương làm phân tán nguồn lực: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào vùng năm 2016 chỉ chiếm khoảng 6,12% tổng vốn FDI của 4 vùng KTTĐ cả nước.
- Năng lực cạnh tranh ngành hạn chế: Thiếu sự liên kết giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh dẫn tới chỉ có 3 ngành có thương số vùng (LQ) lớn hơn 1 là du lịch, kho bãi và xây dựng.
- Tỷ trọng đóng góp vào quy mô nền kinh tế thấp: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của vùng năm 2016 chỉ đóng góp khoảng 6,51% tổng GDP cả nước, thấp nhất trong 4 vùng KTTĐ (vùng KTTĐ Bắc Bộ đóng góp 18,9%, vùng KTTĐ phía Nam đóng góp 43%, vùng KTTĐ ĐBSCL đóng góp 7%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 chỉ đạt 45,48 triệu đồng/người (so với Bắc Bộ đạt 67,06 triệu đồng/người và phía Nam đạt 99,10 triệu đồng/người).
Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu có hệ thống cơ sở khoa học, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy LKKT nội vùng KTTĐ miền Trung trở thành yêu cầu cấp thiết về cả mặt học thuật lẫn thực tiễn quản trị phát triển.
Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản của LKKT vùng KTTĐ, luận án vận dụng vào nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ miền Trung, từ đó tìm ra những giải pháp để tăng cường LKKT trong vùng.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ gồm: nội hàm của LKKT vùng, các yêu cầu đặt ra đối với LKKT vùng KTTĐ, các tiêu chí đánh giá LKKT vùng KTTĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến LKKT vùng KTTĐ.
- Chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế trong LKKT vùng KTTĐ miền Trung thời gian qua và các nguyên nhân dẫn tới hạn chế đó.
- Đưa ra quan điểm, định hướng tăng cường LKKT vùng KTTĐ miền Trung và các giải pháp cần được thực hiện để tăng cường LKKT trong vùng thời gian tới.
- Giả thuyết nghiên cứu: Nếu LKKT vùng được tăng cường sẽ giúp tăng năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của các chủ thể cũng như của toàn vùng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của vùng và ngược lại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Liên kết kinh tế trong vùng KTTĐ miền Trung.
- Phạm vi không gian: 5 địa phương thuộc vùng KTTĐ miền Trung gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Luận án tập trung vào liên kết nội vùng làm nền tảng.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng tập trung phân tích giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016; các định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận LKKT vùng từ góc độ cốt lõi là liên kết các hoạt động kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp, cá nhân/hộ sản xuất) trên địa bàn xuất phát từ nhu cầu thị trường. Các hoạt động liên kết từ phía Nhà nước được xem xét như yếu tố môi trường và hỗ trợ. Luận án chọn 3 ngành/lĩnh vực điển hình để đi sâu phân tích gồm: du lịch, khai thác thủy sản và công nghiệp chế tạo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm nội dung:
Các hướng nghiên cứu chính đã công bố
- Các nghiên cứu quốc tế về lý thuyết vùng và liên kết kinh tế vùng:
- Christaller (1933) và Lösch (1954) xây dựng lý thuyết nơi trung tâm, xác định vùng là hệ thống thứ bậc đô thị dựa trên quy mô thị trường hàng hóa.
- Hirschman (1958) phát triển lý thuyết liên kết ngược (backward linkages) và liên kết xuôi (forward linkages) thông qua dòng chảy thị trường đầu vào - đầu ra.
- Klaasen và cộng sự (1987) phân loại vùng dựa trên tỷ số thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng so với cả nước (vùng phồn vinh, vùng yếu kém đang phát triển, vùng yếu kém tiềm năng, vùng lạc hậu).
- Markusen (1987) và Dawkins (2003) tiếp cận vùng theo cấu trúc không gian, tính lịch sử và sự gắn kết địa lý kinh tế.
- Porter (1998) tiếp cận liên kết vùng dưới góc độ cụm liên kết ngành (cluster) và chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Các nghiên cứu trong nước về liên kết kinh tế vùng và vùng kinh tế trọng điểm:
- Về cơ chế và thực trạng liên kết vùng nói chung: Đinh Sơn Hùng và cộng sự (2011) nghiên cứu cơ chế LKKT giữa TP.HCM và vùng ĐBSCL; Hồ Kỳ Minh và Lê Minh Nhất Duy (2012) khảo sát liên kết vùng Duyên hải miền Trung; Trần Hữu Hiệp (2013) đề xuất phát triển cụm liên kết ngành lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản ở ĐBSCL; Bùi Tất Thắng (2017) phân tích nhu cầu và giải pháp liên kết vùng Tây Bắc.
- Về vùng KTTĐ và bộ máy điều phối: Lê Văn Nắp (2009) phân tích mối quan hệ giữa vùng KTTĐ Bắc Bộ với vùng Đồng bằng sông Hồng; Ngô Thắng Lợi và cộng sự (2015) phân tích thực trạng điều phối phát triển 4 vùng KTTĐ ở 3 khía cạnh: quy chế phối hợp, triển khai nội dung liên kết và bộ máy tổ chức điều phối.
- Về LKKT vùng KTTĐ miền Trung: Đào Hữu Hòa (2008), Ngô Hà Tấn và Đào Hữu Hòa (2014) chỉ rõ sự thiếu liên kết trong quy hoạch và chính sách ưu đãi phát triển khu công nghiệp (KCN); Lê Thế Giới (2008) đề xuất 6 nội dung xây dựng mô hình hợp tác vùng KTTĐ miền Trung; Nguyễn Xuân Thiên (2015) nghiên cứu liên kết vùng KTTĐ Trung Bộ trong thu hút FDI cho du lịch.
- Về phương pháp định lượng: Nguyên Chương (2009) hồi quy tăng trưởng GDP/người các tỉnh miền Trung theo tăng trưởng của Đà Nẵng; Bùi Trinh và cộng sự (2012) sử dụng bảng cân đối liên ngành (I-O) liên vùng để phân tích hiệu ứng lan tỏa của vùng KTTĐ phía Nam.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Khoảng trống về khung lý thuyết: Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận liên kết vùng từ góc độ điều phối hành chính của chính quyền (quy hoạch, chính sách ưu đãi đầu tư, phân cấp ngân sách). Luận án định vị khoảng trống cần tiếp cận LKKT vùng xuất phát từ quan hệ thị trường giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh vi mô, đồng thời làm rõ các yêu cầu đặc thù của loại hình "vùng kinh tế trọng điểm".
- Khoảng trống về phương pháp đánh giá: Các nghiên cứu định lượng bằng bảng I-O (Bùi Trinh, 2012) gặp hạn chế do chu kỳ lập bảng 5 năm và thiếu bảng I-O cấp vùng chính thức; mô hình hồi quy đơn biến (Nguyên Chương, 2009) chưa phản ánh đa chiều tương tác không gian. Luận án bổ sung phương pháp phân tích tương quan không gian thông qua chỉ số Moran (I) kết hợp khảo sát vi mô theo ngành.
- Khoảng trống về thực tiễn: Thiếu công trình phân tích toàn diện thực trạng LKKT nội vùng KTTĐ miền Trung gắn kết giữa đo lường vĩ mô với các nghiên cứu điển hình ở các ngành trọng điểm (du lịch, khai thác thủy sản, công nghiệp ô tô/chế tạo).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm vùng kinh tế trọng điểm: Vận dụng Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, xác định vùng KTTĐ là bộ phận lãnh thổ quốc gia hội tụ các điều kiện phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực và đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung.
- Khái niệm liên kết kinh tế vùng: Luận án định nghĩa LKKT vùng là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trên không gian vùng nhằm tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, nâng cao năng suất và tạo dựng lợi thế cạnh tranh.
- Khung phân tích lý thuyết:
- Lý thuyết liên kết kinh tế của Hirschman (1958) với mối liên kết xuôi - liên kết ngược.
- Khái niệm chuỗi giá trị doanh nghiệp và chuỗi giá trị ngành của Michael Porter.
- Lý thuyết cụm liên kết ngành (Industrial Clusters) với 4 dạng mô hình: cụm nối mạng (Hình 2.3), cụm trung tâm (Hình 2.4), cụm vệ tinh (Hình 2.5), cụm do nhà nước tổ chức (Hình 2.6).
- Kinh nghiệm quốc tế về LKKT vùng: Mô hình cụm liên kết ngành của Nhật Bản; chính sách 5+2 vùng liên kết ngành và cụm đóng tàu Gyeongnam của Hàn Quốc; mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản của Thái Lan.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng theo quy trình nghiên cứu logic từ lý luận đến thực tiễn:
Dữ liệu thứ cấp + Tổng quan nghiên cứu ➔ Khung nghiên cứu LKKT vùng KTTĐ
↓
Dữ liệu sơ cấp + Dữ liệu thứ cấp ➔ Phân tích thực trạng LKKT vùng KTTĐ miền Trung
↓
Rút ra kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
↓
Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường LKKT
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Phân tích chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành trong 3 trường hợp điển hình: Cụm ngành du lịch tại 3 địa phương (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam); Chuỗi giá trị khai thác thủy sản xa bờ; Cụm liên kết ngành cơ khí ô tô (trường hợp Tổ hợp THACO Chu Lai).
- Phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ quản lý địa phương (Vụ Kinh tế địa phương và Lãnh thổ - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Vụ Kế hoạch và Tài chính - Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở VHTTDL Đà Nẵng, Hội Lữ hành Đà Nẵng...).
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Tính toán chỉ số tự tương quan không gian Moran's $I$ dựa trên tọa độ địa lý và số liệu GRDP/người của 5 địa phương thuộc vùng KTTĐ miền Trung nhằm đo lường mức độ gắn kết không gian kinh tế.
- Sử dụng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô: Mật độ kinh tế ($\text{GRDP}/\text{km}^2$), tỷ số $\text{VA}/\text{GO}$, thương số vùng (LQ), tỷ trọng đóng góp GRDP, cơ cấu vốn FDI và năng suất lao động (NSLĐ).
- Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê và Niên giám Thống kê của 24 Cục Thống kê các tỉnh/thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ giai đoạn 2010–2016; các báo cáo quy hoạch, văn bản pháp quy của Chính phủ và các bộ, ngành.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát các đơn vị kinh doanh lữ hành, lưu trú tại Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam; điều tra số tàu đánh bắt xa bờ tham gia tổ đội đoàn kết sản xuất trên biển tại các tỉnh ven biển miền Trung.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về liên kết kinh tế vùng
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến LKKT vùng, tiêu chí đo lường và các nhân tố ảnh hưởng.
Luận án chỉ ra 7 nhóm nhân tố chính tác động đến LKKT vùng: (1) Khung pháp lý; (2) Phân cấp quản lý đầu tư và quy hoạch; (3) Bộ máy tổ chức điều phối và cơ chế tài chính vùng; (4) Tư duy và nhận thức của các chủ thể; (5) Đặc điểm địa lý kinh tế; (6) Quy mô và trình độ của các chủ thể sản xuất kinh doanh; (7) Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ hỗ trợ.
Chương này xác lập khoảng trống khoa học: Cần một nghiên cứu hệ thống đánh giá LKKT từ góc độ vi mô tại vùng KTTĐ miền Trung, kết hợp giữa mô hình không gian định lượng và nghiên cứu chuỗi giá trị/cụm ngành.
Chương 2: Cơ sở khoa học của liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng về vùng, vùng KTTĐ và LKKT vùng; xây dựng khung nghiên cứu hoàn chỉnh cho đề tài:
- Yêu cầu đối với LKKT vùng KTTĐ: Vùng KTTĐ phải đóng vai trò cực tăng trưởng, có hiệu ứng lan tỏa, đạt tỷ trọng đóng góp cao vào nền kinh tế quốc dân, có mật độ kinh tế vượt trội và tỷ suất giá trị gia tăng cao.
- Nội dung và hình thức LKKT: Phân tích các mô hình chuỗi giá trị sản phẩm và mô hình cụm liên kết ngành (cụm nối mạng, cụm trung tâm, cụm vệ tinh, cụm do nhà nước tổ chức).
- Tiêu chí đánh giá LKKT vùng KTTĐ: Luận án tổng hợp hệ thống chỉ tiêu đánh giá định lượng và định tính tại Bảng 2.2, bao gồm: mức độ tập trung kinh tế, tương quan không gian Moran's $I$, mức độ tham gia chuỗi giá trị và tỷ lệ liên kết ngang/dọc của doanh nghiệp.
- Bài học kinh nghiệm quốc tế: Rút ra 4 kết luận thực tiễn từ mô hình cụm ngành của Nhật Bản, Hàn Quốc và chuỗi giá trị nông nghiệp của Thái Lan về vai trò của doanh nghiệp hạt nhân, cơ chế điều phối vùng gắn với ngân sách thực chất và chính sách công nghiệp hỗ trợ.
Chương 3: Thực trạng liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng kinh tế - xã hội và mức độ LKKT của 5 tỉnh/thành phố vùng KTTĐ miền Trung trong giai đoạn 2011–2016 thông qua hệ thống số liệu thống kê:
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Vùng KTTĐ miền Trung |
So sánh với các vùng KTTĐ khác / Cả nước |
| Đóng góp vào GDP cả nước (2016) |
6,51% |
Thấp nhất (Bắc Bộ: 18,9%; Phía Nam: 43%; ĐBSCL: 7%) |
| Thu nhập bình quân đầu người (2016) |
45,48 triệu đồng/người |
Bắc Bộ: 67,06 triệu đồng; Phía Nam: 99,10 triệu đồng |
| Mật độ kinh tế theo GRDP (2016) |
10,46 tỷ đồng/km² |
Bình quân cả nước: 13,59 tỷ đồng/km² |
| Tỷ trọng vốn FDI thu hút lũy kế (đến 2016) |
6,12% |
Chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng FDI 4 vùng KTTĐ |
| Tỷ lệ VA/GO toàn vùng |
< 30% |
Thể hiện tính chất gia công, giá trị gia tăng thấp |
| Ngành có lợi thế so sánh ($LQ > 1$) |
Du lịch, kho bãi, xây dựng |
Thiếu vắng các ngành công nghiệp chế tạo chủ lực |
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Chương 3 của luận án
- Kết quả tính toán tương quan không gian Moran's $I$: Luận án tính toán chỉ số Moran ($I$) theo GRDP/người dựa trên tọa độ địa lý 5 tỉnh, cho thấy mức độ tự tương quan không gian còn rất yếu, phản ánh sự gắn kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng còn rời rạc.
- Thực trạng liên kết trong các ngành điển hình:
- Ngành du lịch: Hình thành liên kết "3 địa phương một điểm đến" (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam), tuy nhiên liên kết ngang giữa các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn chủ yếu là tự phát, thiếu các tour tuyến liên vùng độc đáo và thường xảy ra tình trạng cạnh tranh hạ giá.
- Khai thác thủy sản: Mô hình tổ đội đoàn kết trên biển giúp hỗ trợ cứu hộ cứu nạn và tiêu thụ sản phẩm bước đầu, nhưng liên kết dọc trong chuỗi giá trị từ khai thác - bảo quản - chế biến - xuất khẩu còn yếu, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao.
- Công nghiệp chế tạo: Tổ hợp ô tô THACO Chu Lai (Quảng Nam) hình thành mô hình cụm công nghiệp hạt nhân, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp nội vùng tham gia chuỗi cung ứng linh kiện phụ trợ còn rất thấp, chủ yếu nhập khẩu hoặc liên kết ngoài vùng.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Vùng chưa đóng vai trò đầu tàu kinh tế; cơ cấu kinh tế các tỉnh trùng lặp; phân bổ cảng biển, sân bay, KCN dàn trải; liên kết chuỗi giá trị yếu.
- Nguyên nhân: Tư duy cục bộ địa phương chạy theo thành tích; cơ chế phân cấp đầu tư phân tán; thiếu quy hoạch vùng thống nhất; bộ máy điều phối vùng thiếu thẩm quyền quyết định và không có nguồn ngân sách độc lập để triển khai các dự án liên kết.
Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường liên kết kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Chương 4 xác định bối cảnh, quan điểm, mục tiêu phát triển đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Quan điểm và định hướng liên kết: Chuyển từ tư duy phát triển kinh tế khép kín theo địa giới hành chính sang tư duy không gian kinh tế vùng; lấy doanh nghiệp làm trung tâm liên kết; phát triển các chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành dựa trên lợi thế kinh tế biển, du lịch di sản và công nghiệp chế biến - chế tạo.
- Đề xuất mô hình liên kết:
- Mô hình liên kết kinh tế vùng của doanh nghiệp (Hình 4.1).
- Mô hình liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất nông - thủy sản (Hình 4.2).
- Mô hình bộ máy tổ chức điều phối vùng KTTĐ (Hình 4.3).
- Hệ thống 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Đổi mới tư duy và nhận thức: Nâng cao nhận thức của lãnh đạo chính quyền địa phương và hiệp hội doanh nghiệp về lợi ích lâu dài của LKKT vùng, xóa bỏ tâm lý cạnh tranh cục bộ.
- Hoàn thiện các điều kiện thực hiện liên kết: Nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (đường ven biển, đường sắt, logistics kết nối cảng biển Đà Nẵng, Kỳ Hà, Dung Quất, Quy Nhơn); đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho vùng.
- Hoàn thiện khung pháp lý: Ban hành quy chế pháp lý mang tính ràng buộc bắt buộc trong phân bổ ngân sách đầu tư vùng và phối hợp quy hoạch tổng thể các KCN, khu kinh tế ven biển.
- Hoàn thiện bộ máy điều phối vùng: Tái lập tổ chức điều phối vùng có đủ thẩm quyền quyết định, có cơ quan thường trực chuyên trách và thành lập Quỹ phát triển hạ tầng vùng KTTĐ miền Trung.
- Tăng cường chính sách khuyến khích liên kết: Áp dụng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho các doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân xây dựng chuỗi cung ứng nội vùng và các dự án liên kết sản xuất liên tỉnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ nội hàm lý luận về LKKT vùng dưới cách tiếp cận vi mô: Luận án khẳng định LKKT vùng thực chất là sự gắn kết hoạt động kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp, hộ gia đình) thông qua cơ chế thị trường, trong khi sự phối hợp của các cấp chính quyền đóng vai trò tạo lập khung khổ và thúc đẩy.
- Xác lập khung tiêu chí đánh giá LKKT đặc thù cho vùng KTTĐ: Bổ sung các tiêu chí về mật độ kinh tế, chỉ số lan tỏa, tỷ lệ VA/GO và việc ứng dụng chỉ số tự tương quan không gian Moran's $I$ để đo lường mức độ gắn kết kinh tế liên địa phương phù hợp với điều kiện thống kê của Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh dữ liệu toàn diện và khách quan về thực trạng phát triển của vùng KTTĐ miền Trung giai đoạn 2011–2016, chỉ rõ nguyên nhân khiến vùng trở thành "vùng trũng" kinh tế so với các vùng KTTĐ khác trong cả nước.
- Đánh giá cụ thể mức độ liên kết trong 3 ngành trụ cột (du lịch 3 tỉnh Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, thủy sản và công nghiệp ô tô Chu Lai), từ đó chỉ ra những nút thắt trong chuỗi giá trị thực tế.
- Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy điều phối vùng có cơ chế tài chính thực chất, cùng 5 nhóm giải pháp chính sách khả thi nhằm định hướng phát triển vùng KTTĐ miền Trung đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở liên kết nội vùng giữa 5 tỉnh/thành phố thuộc vùng KTTĐ miền Trung, chưa đi sâu phân tích toàn diện mối quan hệ liên kết liên vùng với vùng Tây Nguyên, vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Ngoài ra, nguồn dữ liệu bảng I-O cấp vùng chưa có sẵn nên các phân tích lan tỏa liên ngành chủ yếu dựa trên các nghiên cứu điển hình và số liệu thống kê gián tiếp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu mở rộng LKKT liên vùng giữa vùng KTTĐ miền Trung với dải kinh tế Tây Nguyên và Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC).
- Xây dựng mô hình cân đối liên ngành (I-O) chuyên biệt cho vùng KTTĐ miền Trung khi điều kiện dữ liệu thống kê cho phép để đo lường chính xác các hệ số lan tỏa kinh tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Ban điều phối vùng KTTĐ miền Trung, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định trong việc xây dựng quy hoạch phát triển vùng, thiết lập cơ chế điều phối và chính sách phân bổ vốn đầu tư công.
- Các hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp: Hiệp hội Du lịch, Hiệp hội Thủy sản và các doanh nghiệp công nghiệp trong việc xây dựng chiến lược liên kết chuỗi giá trị, mở rộng mạng lưới cung ứng phụ trợ nội vùng.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Quy hoạch không gian và Kinh tế vùng làm tài liệu tham khảo về khung lý thuyết liên kết vùng và phương pháp đo lường tương quan không gian.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án nhận định vùng KTTĐ miền Trung là "vùng trũng" kinh tế trong các vùng KTTĐ cả nước?
Theo số liệu thống kê năm 2016 được luận án phân tích, vùng KTTĐ miền Trung chỉ đóng góp 6,51% tổng GDP cả nước (thấp nhất trong 4 vùng KTTĐ); thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 45,48 triệu đồng (thấp hơn nhiều so với vùng Bắc Bộ 67,06 triệu đồng và vùng phía Nam 99,10 triệu đồng); mật độ kinh tế chỉ đạt 10,46 tỷ đồng/km² (thấp hơn mức trung bình 13,59 tỷ đồng/km² của cả nước) và chỉ thu hút được 6,12% tổng vốn FDI của các vùng KTTĐ.
2. Luận án lựa chọn 3 ngành/lĩnh vực nào để nghiên cứu thực chứng điển hình?
Luận án lựa chọn: (1) Cụm liên kết ngành du lịch tại 3 địa phương Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam; (2) Chuỗi giá trị khai thác thủy sản xa bờ; và (3) Cụm liên kết ngành cơ khí chế tạo (điển hình là Tổ hợp sản xuất ô tô THACO Chu Lai tại Quảng Nam).
3. Phương pháp định lượng nào được luận án sử dụng để đo lường mức độ liên kết không gian toàn vùng?
Luận án sử dụng chỉ số tự tương quan không gian Moran (Moran's $I$) tính toán theo GRDP bình quân đầu người kết hợp với ma trận khoảng cách tọa độ địa lý của 5 tỉnh/thành phố trong vùng để đánh giá mức độ tương tác không gian kinh tế.
4. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn tới sự hạn chế trong liên kết vùng KTTĐ miền Trung?
Các nguyên nhân chính gồm: Tư duy quản lý cục bộ theo địa giới hành chính; cơ chế phân cấp đầu tư phân tán dẫn đến trùng lặp hạ tầng (sân bay, cảng biển, KCN); cơ cấu kinh tế các tỉnh tương đồng; bộ máy điều phối vùng thiếu thẩm quyền thực tế và không có ngân sách độc lập để điều tiết các hoạt động liên kết.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp nhằm tăng cường liên kết kinh tế vùng?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Đổi mới tư duy và nhận thức; (2) Hoàn thiện các điều kiện thực hiện liên kết (hạ tầng, nhân lực); (3) Hoàn thiện khung pháp lý; (4) Hoàn thiện bộ máy điều phối vùng gắn với cơ chế tài chính; (5) Tăng cường các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị và cụm ngành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phí Thị Hồng Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm, khẳng định vai trò trung tâm của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong cấu trúc thị trường. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích tương quan không gian và khảo sát thực chứng 3 ngành kinh tế chủ lực, công trình đã làm sáng tỏ những điểm nghẽn khiến vùng KTTĐ miền Trung chưa phát huy được vai trò đầu tàu động lực trong giai đoạn 2011–2016. Hệ thống mô hình và 5 nhóm giải pháp được luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc hoàn thiện thể chế điều phối và nâng cao hiệu quả liên kết nội vùng đến năm 2030.