Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý luận về giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất - Chương 3: Thực trạng giá thành sản phẩm tại Công ty than Khánh Hòa ~ VVMI - Chương 4: Một số giải pháp hạ giá thành sản phẩm tại Công ty than Khánh Hòa - VVMI CHUONG 1 TONG QUAN CAC CONG TRINH NGHIEN CUU CO LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN VĂN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Vấn đề tiết giảm chỉ phí, hạ giá thành trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản luôn được rất nhiều tác giả nghiên cứu và làm việc trong ngành khai thác khoáng sản quan tâm, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đã được áp dụng và mang lại nhiều lợi ích. Dưới đây là tông quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tai: - Nguyễn Văn Bưởi (2007), “Nghiên cứu cơ chế quản lý kinh tế phù hợp trong công ty cổ phần khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp Than — Khoáng sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học M6 - Địa chất.
Luận án đề cập đến các cơ chế quản lý kinh tế đã và đang áp dụng tại Tập đoàn công nghiệp Than — Khoáng sản Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các công ty cổ phần là công ty con trực thuộc Tập đoàn, tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng về cơ chế quản lý gây nhiều bất cập cho các công ty cỗ phần. Căn cứ vào các lý thuyết quản lý kinh tế tác giả đã lựa chọn cơ chế quản lý phù hợp nhất nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tăng tính độc lập và tự chủ của các công ty cổ phần nhằm phát huy nội lực vốn có để đem lại hiệu quả SXKD lớn nhất - Nguyễn Thu Hà (2010): “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chỉ phí sản xuất kinh doanh của Công ty kho vận Hòn Gai — TKV”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Luận văn đề cấp đến hiệu quả quản lý chỉ phí sản xuất kinh doanh với phạm vi không gian là Công ty kho vận Hòn Gai và phạm vi thời gian là giai đoạn 2006 — 2010.
Tác giả đã hệ thống tương đối đầy đủ cơ sở lý thuyết về chi phí và giá thành đối với các doanh nghiệp khai thác và chế biến than. Một số giải pháp tac gid dua ra rat hợp lý như các nhóm giải pháp về điều hành nhằm tăng năng. suất thiết bị, giảm lao động dôi dư, giảm chỉ phí khấu hao trên mỗi tấn than hay các nhóm giải pháp về quản lý chỉ phí nhằm mục đích giảm mức tiêu hao. Tuy nhiên, kho vận Hòn Gai là một doanh nghiệp chế biến và phân phối than nên các nhóm giải pháp này không thực sự phù hợp với các doanh nghiệp khai thác than nói chung và khoáng san n ng.
- Nguyễn Văn Chỉnh (2015): “Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm giảm chỉ phí điện năng cho Công ty cỗ phần than Hà Tu”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mö - Địa chất. Với phạm vi không gian là Công ty cỗ phần than Hà Tu và được nghiên cứu trong giai đoạn 2011 — 2015, tác giả tập trung vào một yếu tố chỉ phí là điện năng tiêu thụ phục vụ cho hoạt động SXKD của than Hà Tu. Tác giả đã phân tích sâu sắc về chi phí điện năng, các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tổ tới chỉ phí điện năng qua đó ảnh hưởng của nó tới chỉ phí sản xuất và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các giải pháp tác giả đưa ra đều mang tính thời sự và phù hợp với công nghệ khai thác trong gia đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, do giới hạn nội dung nghiên cứu chỉ tập trung vào chỉ phí điện năng nên các nhóm giải pháp của tác giả chưa đủ toàn diện. - Vũ Tuấn Sử, Nguyễn Thị Thùy Lan và Nguyễn Thu Hằng (2015), “Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp tỗ chức sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành than trong các đơn vị sản xuất than của Tập đoàn TKV”, Tap chi Thông tin khoa học công nghệ mỏ, số: 11/2015, trang 40. Nhóm tác giả đã nêu được đặc điểm công tác TCSX và đánh giá được thực trạng công tác tô chức sản xuất trong các đơn vị sản xuất than. Đồng thời nhóm tác giả đã nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp tổ chức sản xuất trong các đơn vị sản xuất than như: + Tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp: nhằm giảm bớt lao động phục vụ, phụ trợ.
+ Tăng cường quản lý lao động, TCSX khoa học: nhằm đảm bảo đủ lao động, tận dụng hết thời gian làm việc trong ngày và năng lực máy móc thiết bi. + Khai thác và đỗ thải theo trình tự hợp lý trên quan điểm nhóm mỏ, cụm mỏ nhằm tránh xảy ra sự chống lắn về ranh giới khai thác và đỗ thải. + Rà soát, sửa đôi quy trình kỹ thuật, quy phạm an toàn và đảo thạo thợ mỏ theo hướng đa năng, bố trí lao động kiêm nhiệm đẻ giảm số lượng lao. động, nâng cao trình độ thợ vận hành nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về kĩ thuật và đảm bảo an toàn.
Ngoài ra, nhóm tác giả còn đưa ra được một số chỉ tiêu đánh giá và lựa chọn các giải pháp tô chức sản xuất áp dụng cho các đơn vị sản xuất than. - Đặng Huy Thái (2015), “Mộ số vấn đề về mở rộng phạm vi tinh chi phí trong hạch toán kinh tế phân xưởng ở các doanh nghiệp ngành than”, Tap chí khoa học kỹ thuật Mỏ - Địa chất, số 49, 01/2015. Tác giả đã đưa ra được “các mức độ mở rộng phạm vi khoán chỉ phi cho các đơn vị sản xuất trong doanh nghiệp và sự cần thiết phải mở rộng” và “những vắ eặp phải khi mở rộng phạm vi khoán chỉ phí cho các đơn vị sản xuất trong doanh nghiệp” và từ đó đưa ra “một số phương án tính chỉ phí khi mở rộng phạm vi giao khoán cho phân xưởng”. Một số giải pháp mà tác giả đưa ra là: + Giao khoán chỉ phí khấu hao máy móc thiết bị sử dụng tại phân xưởng.
Tác giả xác định 6 phương án cụ thể (mà thực chất là sự phối hợp của hai phương án xây dựng tiêu chuẩn khoán và 3 phương án giao khoán). + Giao khoán chỉ phí sửa chữa lớn máy móc thiết bị sử dụng tại phân xưởng gồm 4 phương án tính toán giao khoán. + Giao khoán chỉ phí vật tư sử dụng dài hạn tại phân xưởng với 6 phương án tính toán giao khoán. - Lê Đình Chiều, Đặng Huy Thái và Đồng Thị Bich (2013), “Kiến nghị việc xây dựng tiền lương trên giá trị gia tăng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Mö - Địa chất, số 42, 04/2013.
Nhóm tác giả đã liệt kê được các phương pháp xây dựng đơn giá tiền lương hiện đang được áp dụng và những ưu điểm, bất cập của nó. Hai phương. pháp xây dựng đơn giá tiền lương là: + Don giá tiền lương được xây dựng trên chỉ tiêu hiện vật — tông sản phẩm tiêu thụ. Phương pháp này có nhược điểm là việc tính toán phức tạp và tách rời yếu tổ thị trường, + Đơn giá tiền lương được xây dựng dựa trên chỉ tiêu giá trị.
Phương, pháp này có một số nhược điểm như: không phản ánh được giá trị thực tế được tạo ra bởi những người lao động; không thể đem so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong cùng một ngành. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất xây dựng đơn giá tiền lương trên giá trị gia tăng với những ưu việt như phản ánh đúng những giá trị được tạo ra tại doanh nghiệp; có thể đem so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành; phản ánh đúng những đóng góp của người lao động trong doanh nghiệp. Định hướng nghiên cứu của luận văn Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về vấn đề hạ giá thành tại Công ty than Khánh Hòa. Để đảm bảo sự logic và toàn diện tác giả tập trung nghiên cứu và phát triển ở các khía cạnh sau: ~ Cơ sở lý thuyết về chỉ phí sản xuất, giá thành sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
- Căn cứ vào các cơ sở lý thuyết, tiến hành phân tích thực trạng giá thành sản phẩm tại Công ty than Khánh Hòa đề tìm ra nguyên nhân của các mặt còn tồn tại, hạn chế. ~ Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm tại Công ty than Khánh Hòa. Do đó, đề tài “Hạ giá thành sản phẩm tại Công ty than Khánh Hòa - Tổng Công nghiệp mỏ Liệt Bắc TKI” là một đề tài mới, có giá trị luận cứ khoa học quan trọng đối với công tác quản trị chỉ phí tại Công ty than Khánh Hòa. Trong những năm qua do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan hiệu quả của công tác quản trị chi phi rat thấp, đã làm ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty than Khánh Hòa.
Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp hạ giá thành sản phẩm lại càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ THÀNH SẢN PHÁM CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2. Những vấn đề chung về chỉ phí sản xuất 2. Khái niệm về chỉ phí sản xuất Quá trình hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng, chuyên đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo thành các sản phẩm công việc, địch vụ nhất định.
Trên phương diện này, chỉ phí là một chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của toàn bộ số chỉ phí về số lao động sống và lao động vật hóa mà chính doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong thời kì nhất định (tháng, quý, năm). Do sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục cho. nên chỉ phí cũng liên tục được chia ra trong suốt quá trình sản xuất, nhưng chỉ có những chỉ phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong một thời kì mới được tính vào chỉ phí sản xuất trong kì đó. Chỉ phí chỉ là phạm trù chung, khái quát nên khi hoạt động kinh doanh còn đơn giản thì việc sử dụng một phạm trù này cũng không gây ra rắc rối.
Tuy nhiên, khi kinh doanh ở quy mô lớn, hoạt động mua bán nhộn nhịp, có tải sản dùng ngay một lần, có tài sản dự trữ. thì việc chỉ sử dụng một phạm trù chỉ phí sẽ gây bất tiện.